[Các Liên Kết]

MỤC LỤC: KINH TẠNG
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-2. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-2. Hiển thị tất cả bài đăng

TƯƠNG ƯNG TỲ-KHƯU

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 2

[Thiên Nhân Duyên]
Chương 10
TƯƠNG ƯNG TỶ-KHEO

———————————————————————————————
,[I]
,Kolita
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Tôn giả Mahà Moggallàna (Ðại Mục-kiền-liên) gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
,- Thưa vâng, Hiền giả.
,Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna. Tôn giả Mahà Moggallàna nói:
,- Ở đây, này Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên:
,- "Thánh im lặng được gọi là Thánh im lặng. Thế nào là Thánh im lặng?"
,Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau:
,- "Ở đây, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm".
,Như vậy gọi là Thánh im lặng.
,Rồi này các Hiền giả, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Hiền giả, khi tôi an trú với sự an trú như vậy, các tưởng câu hữu với tầm, các tác ý hiện khởi và hiện hành.
,Rồi này các Hiền giả, Thế Tôn bằng thần thông đến với tôi và nói:
,- "Moggallàna, Moggallàna, chớ có phóng dật. Này Bà-la-môn, đối với Thánh im lặng, hãy an trú tâm vào Thánh im lặng, hãy chú nhất tâm vào Thánh im lặng, hãy chú định tâm vào Thánh im lặng".
,Rồi này các Hiền giả, sau một thời gian, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú vào Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhứt tâm.
,Này các Hiền giả, nếu ai nói một cách chơn chánh, sẽ nói như sau:
,- "Ðược bậc Ðạo Sư hỗ trợ, vị đệ tử chứng đạt đại thắng trí".
,Người ấy nói một cách chơn chánh, sẽ nói về tôi:
,- "Ðược bậc Ðạo Sư hỗ trợ, vị đệ tử chứng đạt đại thắng trí".

,[II]
,Upatissa
,Nhơn duyên ở Sàvatthi. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
,- Thưa vâng, Hiền giả.
,Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói:
,- Ở đây, này các Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên:
,- "Có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?".
,Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ:
,- "Không có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não".
,Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàriputta:
,- Bậc Ðạo Sư, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi Hiền giả sầu, bi, khổ, ưu, não?
,- Bậc Ðạo Sư, khi bị biến hoại, trạng thái đổi khác, không có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não. Nhưng ta có thể suy nghĩ:
,- "Mong rằng bậc Ðại Thế Lực, bậc Ðạo Sư có đại thần thông, có đại uy lực chớ có biến diệt! Nếu bậc Thế Tôn ấy an trú lâu dài, thời như vậy thật là hạnh phúc cho quần sanh, thật là an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người".
,- Như vậy đối với Tôn giả Sàriputta, ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên được khéo đoạn trừ đã lâu ngày. Do vậy, đối với Tôn giả Sàriputta, dầu cho bậc Ðạo Sư có biến hoại, trạng huống có đổi khác, cũng không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

,[III]
,Cái Ghè
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
,Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggallàna cùng ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, chung một tịnh xá.
,Rồi Tôn giả Sàriputta, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallàna những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên. Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
,1- Này Hiền giả Moggallàna, các căn của Hiền giả thật là tịch tịnh; sắc mặt thật là thanh tịnh, trong sáng. Có phải hôm nay Tôn giả Mahà Moggallàna an trú với sự an trú tịnh lạc?
,- Thưa Hiền giả, hôm nay tôi an trú với sự an trú thô thiển. Tôi có được một cuộc pháp thoại.
,- Với ai, Tôn giả Mahà Moggallàna có được một cuộc đàm luận về Chánh pháp?
,- Thưa Hiền giả, tôi có một cuộc pháp thoại với Thế Tôn.
,2- Ở xa, thưa Hiền giả, là Thế Tôn. Hiện nay Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Có phải Tôn giả Mahà Moggallàna đi đến Thế Tôn bằng thần thông hay Thế Tôn đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna bằng thần thông?
,- Thưa Hiền giả, tôi không đi đến Thế Tôn bằng thần thông. Và Thế Tôn cũng không đi đến tôi bằng thần thông. Tôi như thế nào thời Thế Tôn được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy! Thế Tôn như thế nào thời tôi được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy.
,- Như thế nào là cuộc pháp thoại giữa Tôn giả Mahà Moggallàna với Thế Tôn?
,- Ở đây, thưa Hiền giả, tôi bạch với Thế Tôn:
,3- «Bạch Thế Tôn ở đây tinh cần, tinh tấn, được gọi là tinh cần, tinh tấn. Như thế nào, bạch Thế Tôn, là tinh cần, tinh tấn?".
,Khi được nói vậy, thưa Hiền giả, Thế Tôn nói với tôi:
,- «Ở đây, này Moggallàna, Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn: ‘Dầu cho da, dây gân và xương có khô héo, dầu thịt và máu có héo tàn trên thân tôi, cái gì có thể lấy sức lực của người, tinh tấn của người, nỗ lực của người có thể đạt được; nếu chưa đạt được, thời tinh tấn sẽ không bao giờ dừng nghỉ’. Như vậy, này Moggallàna, là sự tinh cần, tinh tấn".
,Như vậy, này Hiền giả, là cuộc pháp thoại giữa Thế Tôn và tôi.
,4. Ví như, một đống hòn sạn nhỏ đem đặt dài theo Hy-mã-lạp sơn, vua các loài núi. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Mahà Moggallàna. Mong rằng Tôn giả Mahà Moggallàna, bậc đại thần thông, đại uy lực, nếu muốn hãy sống cho đến một kiếp.
,5. Ví như, một nắm muối nhỏ được đem đặt dài theo một ghè muối lớn. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện xưng tán, tán thán, tán dương:
,Như vị Xá-lợi-phất,
,Về trí tuệ, giới luật,
,Và cả về tịch tịnh,
,Ông là bậc đệ nhất.
,Tỷ-kheo đạt bỉ ngạn,
,Cũng là bậc tối thượng.
,Như vậy, hai bậc Long Tượng ấy (Nàgà) cùng nhau hoan hỷ, tán thán trong câu chuyện khéo nói, khéo thuyết.

,[IV]
,Tân Tỷ Kheo
, ... Trú ở Sàvatthi.
,Lúc bấy giờ, một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, yên lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
,Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
,1- Ở đây, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
,Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
,- Hãy đến, này Tỷ-kheo, nhân danh Ta, hãy gọi Tỷ-kheo ấy và nói:
,- "Này Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả".
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tỷ-kheo kia; sau khi đến nói với Tỷ-kheo ấy:
,- Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.
,- Thưa vâng, này Hiền giả.
,Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tỷ-kheo kia, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
,Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:
,- Có thật chăng, này Tỷ-kheo, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, sau khi vào tịnh xá, Ông rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y?
,2- Bạch Thế Tôn, con làm việc của con.
,Rồi Thế Tôn, với tâm của mình biết tâm Tỷ-kheo ấy, liền gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo, các Ông chớ có bực phiền với Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này chứng được không có khó khăn, chứng được không có mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú. Vị ấy còn tự mình ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
,3. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Kẻ sống buông thả này,
,Kẻ ít nghị lực này,
,Không thể đạt Niết-bàn,
,Giải thoát mọi khổ đau.
,Vị Tỷ-kheo trẻ này,
,Là một người tối thượng,
,Chiến thắng ma quân xong,
,Thọ trì thân tối hậu.

,[V]
,Thiện Sanh
,Trú ở Sàvatthi.
,Rồi Tôn giả Sujàta đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy Tôn giả Sujàta từ đằng xa đi đến; thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:
,- Cả hai phương diện, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử này thật sự chói sáng. Vị ấy đẹp trai, ưa nhìn, khả ái, đầy đủ với nhan sắc tối thượng. Vị ấy còn ngay trong hiện tại tự mình chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
,Thế Tôn nói như vậy xong. Bậc Ðạo Sư, lại nói thêm:
,Tỷ-kheo này sáng chói,
,Với tâm tư chánh trực,
,Ly kiết sử, ly ách,
,Không chấp, không sanh lại,
,Chiến thắng ma quân xong,
,Thọ trì thân tối hậu.

,[VI]
,Bhaddi
,... Trú ở Sàvatthi.
,Rồi Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya từ xa đi đến; sau khi thấy, liền gọi các Tỷ-kheo:
,- Các Ông có thấy không, Tỷ-kheo kia đang đi đến, xấu xí, khó nhìn, còm lưng, bị các Tỷ-kheo khinh miệt?
,- Thưa có, bạch Thế Tôn.
,- Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Và cả đến mục đích mà con một lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tức vị ấy còn tự mình, ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
,Thế Tôn thuyết như vậy, Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Thiên nga, cò, chim, công,
,Voi và nai có chấm,
,Tất cả sợ sư tử,
,Dầu thân không đồng đều.
,Cũng vậy, giữa loài Người,
,Nếu kẻ có trí tuệ,
,Ở đấy vị ấy lớn,
,Không như thân kẻ ngu.


,[VII]
,Visàkha
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), tại Mahàvana (Ðại Lâm) chỗ Trùng Các giảng đường.
,Lúc bấy giờ Tôn giả Visàkha, thuộc dòng họ Pancàla, trong giảng đường đang thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước.
,Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo, trong hội trường, ai đã thuyết giảng pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước?
,- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Visàkha thuộc dòng họ Pancàla, trong hội trường thuyết giảng pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước.
,Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Visàkha, thuộc dòng họ Pancàla và nói:
,- Lành thay, lành thay, Visàkha! Lành thay, này Visàkha! Ông thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ... không chấp trước.
,Thế Tôn thuyết như vậy, bậc Thiện Thệ thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Họ biết bậc Hiền triết,
,Khi vị này lẫn lộn,
,Với các kẻ ngu si,
,Dầu vị này không nói.

,Và họ biết vị ấy,
,Khi vị này nói lên,
,Nói lên lời thuyết giảng,
,Liên hệ đến bất tử;
,Hãy để vị ấy nói,
,Làm sáng chói Chánh pháp;
,Hãy để vị nêu cao
,Lá cờ các bậc Thánh.

,Lá cờ bậc Hiền Thánh,
,Là những lời khéo nói,
,Lá cờ bậc Hiền Thánh,
,Chính là lời Chánh pháp.


,[VIII]
,Nanda
,Trú ở Sàvatthi.
,Rồi Tôn giả Nanda, con di mẫu của Phật, đắp những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ mắt, cầm bát sáng chói, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda:
,- Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại mang những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ con mắt và mang bát sáng chói.
,Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là sống trong rừng, sống đi khất thực, sống mặc áo phấn tảo, và sống không mong đợi các dục vọng.
,Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Ta mong được nhìn thấy,
,Nanda sống trong rừng,
,Mặc áo phấn tảo y,
,Sống với những đồ ăn,
,Biết là đã vứt bỏ,
,Không mong chờ dục vọng.
,Rồi Tôn giả Nanda, sau một thời gian, trở thành một vị sống trong rừng, ăn đồ ăn khất thực, mang y phấn tảo, không mong đợi các dục vọng.

,[IX]
,Tissa
,... Trú ở Sàvatthi.
,Rồi Tôn giả Tissa, cháu của phụ vương Thế Tôn đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, khổ đau, sầu muộn, nước mắt tuôn chảy.
,Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa:
,- Này Tissa, vì sao Ông ngồi khổ đau, sầu muộn, nước mắt tuôn chảy?
,- Vì rằng, bạch Thế Tôn, các vị Tỷ-kheo nhất loạt mắng nhiếc và nhạo báng con.
,- Vì rằng, này Tissa, Ông nói tất cả và không kham nhẫn người khác nói.
,Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Tissa, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại nói tất cả và không kham nhẫn người khác nói.
,Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Tissa, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là đã nói lời kham nhẫn người khác nói.
,Thế Tôn nói như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Sao Ông lại phẫn nộ?
,Chớ có nên phẫn nộ,
,Không phẫn nộ, Tissa,
,Thật tốt đẹp cho Ông.
,Hãy nhiếp phục phẫn nộ,
,Kiêu mạn và xan tham,
,Hỡi Tissa, hãy sống,
,Sống đời sống Phạm hạnh.

,[X]
,Tên Trưởng Lão
,Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
,Lúc bấy giờ một Tỷ-kheo tên là Theranàmaka sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú. Vị ấy đi vào làng khất thực một mình, đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, đi kinh hành một mình.
,Rồi các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo tên là Theranàmaka sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú... đi kinh hành một mình.
,Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:
,- Này Tỷ-kheo, hãy đến, hãy nhân danh Ta gọi Tỷ-kheo Thera:
,- "Này Hiền giả Thera, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả".
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến Tỷ-kheo Thera. Sau khi đến, Tỷ-kheo ấy nói với Tỷ-kheo Thera:
,- Này Hiền giả Thera, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.
,- Thưa vâng, Hiền giả.
,Tôn giả Thera vâng đáp Tỷ-kheo ấy và đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Thera:
,- Có thật chăng, này Thera, Ông sống độc trú và tán thán hạnh độc trú?
,- Thưa có, bạch Thế Tôn.
,- Như thế nào, này Thera, Ông sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú?
,- Ở đây, con đi vào làng khất thực một mình, con đi về một mình, con ngồi vắng lặng một mình, con đi kinh hành một mình. Như vậy, bạch Thế Tôn, con sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú.
,- Ðấy là sống độc trú, Ta không nói đấy không phải vậy. Này Thera, có một cách làm viên mãn độc trú với các chi tiết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,- Này Thera, thế nào là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết?
,Ở đây, cái gì đã qua được đoạn tận; cái gì sắp đến được từ bỏ; đối với những tự ngã, lợi đắc hiện tại, dục tham được khéo nhiếp phục. Như vậy, là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết.

,Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Ai chiến thắng tất cả,
,Ai hiểu biết tất cả,
,Ai là bậc Thiện trí,
,Mọi pháp không ô nhiễm.
,Ai từ bỏ tất cả,
,Ái tận được giải thoát,
,Ta nói chính người ấy,
,Thật là vị độc trú.

,[XI]
,Kappina
, ... Trú ở Sàvatthi.
,Rồi Tôn giả Mahà Kappina đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina từ đường xa đi đến; Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:
,- Các Ông có thấy không, vị Tỷ-kheo kia đi đến, da bạc trắng, ốm yếu, với cái mũi cao?
,- Thưa có, bạch Thế Tôn.
,- Tỷ-kheo ấy, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
,Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Sát-lỵ là tối thượng,
,Giữa mọi loài chúng sanh,
,Với những ai nương tựa,
,Vào vấn đề giai cấp.
,Bậc Minh Hạnh cụ túc,
,Tối thượng giữa Trời, Người,
,Ngày, mặt trời chói sáng,
,Ðêm, mặt trăng chói sáng,
,Trong tấm áo chiến bào,
,Sát-lỵ được chói sáng.
,Trong Thiền định, Thiền tri,
,Bà-là-môn chói sáng,
,Nhưng suốt cả đêm ngày,
,Phật chói sáng hào quang.

,[XII]
,Thân Hữu
, ... Trú ở Sàvatthi.
,Rồi hai Tỷ-kheo thân hữu, đệ tử của Tôn giả Mahà Kappina, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy hai Tỷ-kheo ấy từ đàng xa đi đến. Thấy vậy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:
,- Các Ông có thấy không, hai Tỷ-kheo thân hữu ấy đang đi tới, cả hai là đệ tử của Tôn giả Mahà Kappina?
,- Thưa có, bạch Thế Tôn.
,- Hai Tỷ-kheo ấy có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia những Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Các vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đắc và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
,Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Tỷ-kheo thân hữu này,
,Lâu ngày cùng chung sống,
,Chung sống trong diệu pháp,
,Diệu pháp, Phật thuyết giảng.
,Tôn giả Kappina
,Khéo léo huấn luyện họ,
,Trong Chánh pháp vi diệu,
,Do bậc Thánh thuyết giảng,
,Chiến thắng ma quân xong,
,Thọ trì thân tối hậu.

[Hết Tập 2]

...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG THÍ DỤ

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 2

[Thiên Nhân Duyên]
Chương 9
TƯƠNG ƯNG THÍ DỤ

———————————————————————————————
,[I]
,Chóp Mái
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
,Ở đây, Thế Tôn nói như sau:
,1- Ví như, một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
,2. Cũng vậy, phàm có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,- "Chúng ta hãy sống không phóng dật".

,[II]
,Ðầu Ngón Tay
,... Trú ở Sàvatthi.
,Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và nói với các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào?
,1. Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
,- Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
,2- Cũng vậy, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,- "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[III]
,Gia Ðình
, ... Trú ở Sàvatthi.
,1- Ví như, những gia đình nào có nhiều phụ nữ và ít đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị các đạo tặc, trộm ghè não hại.
,- Cũng vậy, Tỷ-kheo nào không tu tập từ tâm giải thoát, không làm cho sung mãn, thời vị ấy dễ bị phi nhân não hại.
,2- Ví như, những gia đình nào có ít phụ nữ và nhiều đàn ông, thời gia đình ấy khó bị các đạo tặc, trộm ghè não hại.
,Cũng vậy, Tỷ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,3- "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[IV]
,Cái Nồi
,... Trú ở Sàvatthi.
,1- Này các Tỷ-kheo, ai vào buổi sáng bố thí một trăm cái nồi, ai buổi trưa bố thí một trăm cái nồi, hay ai buổi chiều bố thí một trăm cái nồi, và ai buổi sáng chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi trưa chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi chiều chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, sự việc này đối với sự việc trước, quả có lớn hơn.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,2- "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[V]
,Cây Lao
,... Trú ở Sàvatthi.
,1- Ví như, một cây lao có lưỡi sắc bén. Rồi một người đến và nói:
,- "Với tay hay với nắm tay, tôi sẽ bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, tôi sẽ đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, tôi sẽ uốn cong nó lại".
,Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào?
,- Người ấy có thể với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uốn cong nó lại không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,Vì sao?
,Bạch Thế Tôn, không dễ gì, với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uống cong nó lại, mà không khiến cho người ấy mệt nhọc và bị não hại.
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một ai (vị Tỷ-kheo) tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện, thời một phi nhân nào nghĩ rằng, có thể đánh ngã một tâm như vậy, kẻ phi nhân ấy ở đây sẽ mệt nhọc và bị não hại.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,3- "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[VI]
,Người Bắn Cung
, ... Trú ở Sàvatthi.
,1- Ví như, bốn người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, đứng tại bốn phương.
,Rồi một người đến và nói rằng:
,- "Ta sẽ nắm bắt và đem lại những mũi tên được bắn đi bốn phương, trước khi chúng rơi xuống đất, do bốn người bắn cung này bắn đi, những người dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật".
,- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào?
,2. Như vậy có vừa đủ chăng để gọi người nhanh nhẹn ấy đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng?
,- Bạch Thế Tôn, nếu chỉ từ một người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, có thể nắm bắt và đem lại một mũi tên được bắn đi, như vậy là vừa đủ để gọi người nhanh nhẹn ấy, đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng. Còn nói gì từ bốn người bắn tên, dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật!
,3- Và như vậy, là sự nhanh nhẹn của người ấy. Và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, còn nhanh hơn sự nhanh nhẹn trước. Và như vậy, là sự nhanh nhẹn của người ấy, và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, và như vậy là sự nhanh nhẹn của các chư Thiên chạy trước mặt trăng, mặt trời. Còn nhanh nhẹn hơn là sự biến diệt của thọ hành (thọ mạng của các sự vật).
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,4- "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[VII]
,Cái Chốt Trống
,... Trú ở Sàvatthi.
,- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, dân chúng Dasàrahà có một cái trống tên là Anaka. Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dasàrahà đóng vào một cái chốt khác.
,Cho đến một thời gian, cả cái thùng ván của trống Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ tập lại.
,Cũng vậy, là những Tỷ-kheo sẽ thành trong tương lai.
,Những bài kinh nào do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, họ sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ không lóng tai; họ sẽ không an trú chánh tri tâm, và họ sẽ không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải thấu đáo.
,Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, họ sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo.
,Như vậy, các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không sẽ đi đến tiêu diệt.

,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,- "Những bài kinh nào do Như Lai thuyết giảng, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, chúng tôi sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; chúng tôi sẽ lóng tai; chúng tôi sẽ an trú chánh tri tâm. Và chúng tôi sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo".

,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,[VIII]
,Cỏ Rơm
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), Mahàvana (Ðại Lâm), Kuutàgàrasàlà (Trùng Các giảng đường).
,Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,- "Này các Tỷ-kheo".
,- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
,Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
,1- Sống trên các gối rơm, là lối sống hiện nay của dân chúng Licchavi, không phóng dật, nhiệt tâm trong nhiệm vụ. Ajàtasattu, con bà Vedehi, vua nước Magadha không có được cơ hội, không có được đối tượng để xâm lăng.
,Trong tương lai, dân chúng Licchavi trở thành nhu nhược, tay chân mềm mỏng. Họ nằm trên những đồ nằm mềm mại. Họ ngủ cho đến mặt trời mọc trên những gối bông. Ajàtasattu, con bà Vedehi, vua nước Magadha, sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng để xâm lăng.
,2. Sống trên các gối rơm, là nếp sống hiện nay của các Tỷ-kheo, không phóng dật, nhiệt tâm trong các nỗ lực. Ác ma không có cơ hội, không có đối tượng để xâm lăng.
,Trong tương lai, các Tỷ-kheo sẽ trở thành nhu nhược, tay chân mềm mỏng. Họ nằm trên những đồ nằm mềm mại. Họ ngủ cho đến mặt trời mọc trên những gối bông. Ác ma sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng (để xâm lăng).
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,- "Chúng tôi sẽ sống trên những gối rơm, không phóng dật, nhiệt tâm trong nỗ lực".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[IX]
,Con Voi
,Tại ngôi vườn ở Sàvatthi.
,1. Lúc bấy giờ, một vị tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy:
,- Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ.
,Ðược nói vậy, vị Tỷ-kheo ấy nói:
,- Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng, họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?
,Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn... ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, có người tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy:
,- "Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ".
,Ðược các Tỷ-kheo nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói:
,- "Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng, họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?"
,2. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, gần một hồ nước lớn, tại một khu rừng, các con voi sống ở đấy. Chúng lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ và rễ sen, rửa chúng thật sạch, làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Nhờ vậy, các con voi ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
,Ðược huấn luyện theo các con voi lớn ấy, các con voi trẻ và nhỏ lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ, rễ sen, không rửa chúng thật sạch, không làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Do vậy, các con voi ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
,3. Cũng vậy, ở đây các Trưởng lão Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Tại đấy họ thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình với các vị ấy. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Nhờ vậy, các Tỷ-kheo ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
,4. Nhưng này các Tỷ-kheo, được huấn luyện theo các Trưởng lão Tỷ-kheo, các tân Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Tại đấy, các vị thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Do vậy, các vị Tỷ-kheo ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
,5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,- "Chúng tôi sẽ thọ dụng các lợi đắc, không tham đắm, không say mê, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu rõ sự xuất ly với trí tuệ".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[X]
,Con Mèo
,... Trú ở Sàvatthi.
,1. Lúc bấy giờ có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy:
,- "Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình".
,Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
,Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn... và bạch Thế Tôn:
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy:
,- "Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình". Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
,2. Thuở xưa, có con mèo đứng rình con chuột bên cạnh một đống rác tại một ống cống và nghĩ rằng:
,- "Nếu có một con chuột nhắt nào đi kiếm ăn chạy ra, ta sẽ bắt lấy và ăn thịt".
,Rồi này các Tỷ-kheo, có con chuột nhắt vì kiếm ăn chạy ra. Và con mèo ấy bắt lấy nó, mau chóng hành động (sankharirva) và nuốt nó. Và con chuột nhắt ấy cắn ruột, cắn phủ tạng con mèo. Do nhân duyên ấy, con mèo đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
,3. Cũng vậy, ở đây, một số Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
,Ở đấy, các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo. Sau khi các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo, tham dục não hại tâm. Các vị ấy bị tham dục não hại tâm, đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
,4. Ðây là sự chết, trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục. Ðây là đau khổ gần như chết, tức là sự vi phạm một uế tội, một tội phạm còn có thể tuyên bố xuất gỡ được.
,5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau:
,- "Phòng hộ thân, phòng hộ lời nói, phòng hộ tâm, an trú chánh niệm, chế ngự các căn, chúng tôi sẽ đi vào làng hay thị trấn để khất thực".
,Như vậy, các Ông cần phải học tập.

,[XI]
,Con Chó Rừng-Giả-Can (1)
,... Trú ở Sàvatthi.
,- Các Ông có nghe chăng, trong ban đêm khi trời gần sáng, con giả-can đang tru lớn tiếng?
,- Thưa có, bạch Thế Tôn.
,1- Ðó là con giả-can, bị mắc bệnh ghẻ lở. Chỗ nào nó muốn đi, chỗ nào nó muốn đứng, chỗ nào nó muốn ngồi, chỗ nào nó muốn nằm, gió lạnh buốt thổi lên trên nó.
,Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu ở đây có người nào, tự cho là Thích tử, lại có thể cảm thọ được một trạng huống tự ngã như vậy.
,2. Do vậy, các Ông cần phải học tập như sau:
,- "Chúng tôi sẽ không phóng dật".
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,[XII]
,Con Chó Rừng-Giả-Can (2)
, ... Trú ở Sàvatthi.
,- Các Ông có nghe chăng, trong ban đêm lúc gần sáng, có con giả-can già tru lớn tiếng?.
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,1- Rất có thể, này các Tỷ-kheo, trong con giả-can già ấy, có nhiều biết ơn, có nhiều cảm tạ, hơn là ở đây trong một người tự xưng là Thích tử về biết ơn và về cảm tạ!
,Do vậy, các Ông cần phải học tập như sau:
,2- "Chúng tôi sẽ biết ơn, cảm tạ. Dầu cho có chút ít gì làm giữa chúng tôi, chúng tôi cũng không để cho mất đi".
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG LAKKHANA

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 2

[Thiên Nhân Duyên]
Chương 8
TƯƠNG ƯNG LAKKHANA

———————————————————————————————
PHẨM I
(Thứ Nhất)

,(1)
,Ðống Xương
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
,Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
,Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana. Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
,- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
,- Thưa vâng, Hiền giả.
,Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
,Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười. Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
,- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
,- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
,Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
,Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
,- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
,1- Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,- Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau:
,- "Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!"
,Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,2- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
,Xưa kia, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
,3. Chúng sanh ấy, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.

,(2)
,Ðồ Tể Giết Trâu Bò
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò.

,(3)
,Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha.

,(4)
,Người Giết Dê Bị Lột Da
,Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này...

,(5)
,Người Giết Heo Với Ðao Kiếm
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này...

,(6)
,Người Săn Thú Với Cây Lao
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này.

,(7)
,Người Tra Tấn Với Mũi Tên
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này.

,(8)
,Người Ðánh Xe Với Các Cây Kim
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người điều phục các loài thú.

,(9)
,Người Do Thám
,Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi giữa hư không.
,Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một gián điệp ở tại Ràjagaha này.

,(10)
,Người Phán Quan Tham Nhũng Với Hòn Dái Lớn
,Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với hòn dái lớn đang đi giữa hư không.
,Khi đang đi, người ấy mang hòn dái trên vai mà đi. Khi ngồi, người ấy ngồi trên những hòn dái ấy.
,Và các con chim kên kên, chim quạ, chim ưng đuổi theo người ấy để cắn mổ, cắn xé, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một phán quan ở Ràjagaha này.

PHẨM II
(Thứ Hai)

,(1)
,Kẻ Thông Dâm Bị Chìm Trong Hố
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người thông dâm ở tại Ràjagaha này.

,(2)
,Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một Bà-la-môn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỷ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói:
,- "Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về!"

,(3)
,Gian Phụ Bị Lột Da
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Người phụ nữ ấy, này các Tỷ-kheo, là một người gian phụ ở Ràjagaha này.

,(4)
,Người Phụ Nữ Xấu Xí Bói Toán
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người phụ nữ hôi hám, xấu xí đang đi trên hư không. Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Người phụ nữ ấy, này các Tỷ-kheo, là một người bói toán ở chính Ràjagaha này.


,(5)
,Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ Trên Một Người Ðàn Bà
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác.

,(6)
,Kẻ Trộm Cướp Ðứt Ðầu
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
,Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
,Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha.

,(7)
,Tỷ-Kheo
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỷ-kheo đi giữa hư không.
,Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
,Tỷ-kheo ấy, là một ác Tỷ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp.

,(8)
,Tỷ-Kheo-Ni
,... tôi thấy một Tỷ-kheo-ni đi giữa hư không.
,Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy đỏ.
,... là một ác Tỷ-kheo-ni...

,(9)
,Học Nữ
,... tôi thấy một học nữ đi giữa hư không.
,Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy...
,... là một ác học nữ...

,(10)
,Sa-Di
,... tôi thấy một Sa-di đi giữa hư không...
,Y Tăng-già-lê của vị ấy bị cháy...
,....là một ác Sa-di.

,(11)
,Sa-Di-Ni
,Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.
,1. Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
,Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau:
,- "Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy trở thành một Dạ-xoa như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy".
,Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,2- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
,3. Xưa kia, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
,4. Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG RAHULA

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 2

[Thiên Nhân Duyên]
Chương 7
TƯƠNG ƯNG LA-HẦU-LA

———————————————————————————————
PHẨM I
(Thứ Nhất)

,(1)
,Vô Ngã (1)
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
,Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ràahula bạch Thế Tôn:
,- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con để sau khi nghe, con có thể sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần!
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Mắt là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
,- Là khổ, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu xem cái ấy:
,- "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi"?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,2- Tai là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,3- Mũi là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,4- Lưỡi là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,5- Thân là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,6- Ý là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
,- Là khổ, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, khi xem cái ấy:
,- "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm chán thân, nhàm chán ý.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
,Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(2)
,Vô Ngã (2)
,... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Sắc là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,2-5:
,- Thanh.... Hương... Vị... Xúc...
,Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,- Pháp là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc... nhàm chán pháp.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(3)
,Thức
,... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Nhãn thức là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,2-5:
,- Nhĩ thức... Tỷ thức...Thiệt thức... Thân thức...
,Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,6- Ý thức là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán nhãn thức, nhàm chán nhĩ thức, nhàm chán tỷ thức, nhàm chán thiệt thức, nhàm chán thân thức, nhàm chán ý thức.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(4)
,Xúc
,... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Nhãn xúc là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,2-5:- Nhĩ xúc... Tỷ xúc... Thiệt xúc... Thân xúc...
,6- Ý xúc là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán nhãn xúc, nhàm chán nhĩ xúc, nhàm chán tỷ xúc, nhàm chán thiệt xúc, nhàm chán thân xúc, nhàm chán ý xúc...
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(5)
,Thọ
,... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Thọ do nhãn xúc sanh là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,2-5:
,- Thọ do nhĩ xúc sanh... Thọ do tỷ xúc sanh... Thọ do thiệt xúc sanh... Thọ do thân xúc sanh...
,6- Thọ do ý xúc sanh là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán thọ do nhãn xúc sanh, nhàm chán thọ do nhĩ xúc sanh, nhàm chán thọ do tỷ xúc sanh, nhàm chán thọ do thiệt xúc sanh, nhàm chán thọ do thân xúc sanh, nhàm chán thọ do ý xúc sanh...
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(6)
,Tưởng
,... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Sắc tưởng là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,2-5:
,- Thanh tưởng... Hương tưởng... Vị tưởng... Xúc tưởng...
,6- Pháp tưởng là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc tưởng, nhàm chán thanh tưởng, nhàm chán hương tưởng, nhàm chán vị tưởng, nhàm chán xúc tưởng, nhàm chán pháp tưởng...
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(7)
,Tư
,... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc tư là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,2-5:
,- Thanh tư... Hương tư... Vị tư... Xúc tư...
,6- Pháp tư là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc tư, nhàm chán thanh tư, nhàm chán hương tư, nhàm chán vị tư, nhàm chán xúc tư, nhàm chán pháp tư.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(8)
,Ái
, ... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Sắc ái là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,2-5:
,- Thanh ái... Hương ái... Vị ái... Xúc ái...
,6- Pháp ái là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc ái, nhàm chán thanh ái, nhàm chán hương ái, nhàm chán vị ái, nhàm chán xúc ái, nhàm chán pháp ái.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(9)
,Giới
,... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Ðịa giới là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,2-5:
,- Thủy giới... Hỏa giới... Phong giới... Không giới...
,6- Thức giới là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán địa giới, nhàm chán thủy giới, nhàm chán hỏa giới, nhàm chán phong giới, nhàm chán không giới, nhàm chán thức giới.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(10)
,Uẩn
, ... Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Sắc là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,2-4:
,- Thọ... Tưởng... Hành...
,- Thức là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, nhàm chán tưởng, nhàm chán hành, nhàm chán thức.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi.lên: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".

PHẨM II
(Thứ Hai)

,(1)
,Vô Thường (1)
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
,Rồi Tôn giả Ràhula, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràhula:
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Con mắt là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
,- Là khổ, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau:
,- "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,2-5:
,- Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...
,6- Ý là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
,- Là khổ, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau:
,- "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử có trí, nhàm chán mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm chán thân, nhàm chán ý.
,Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(2)
,Vô Thường (2)
,Tại Sàvatthi.
,- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
,1- Sắc là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,2-6:
,- Thanh... Hương... Vị... Xúc... Pháp...

,(3)
,Thức
,1-6:
,- Nhãn thức... Nhĩ thức... Tỷ thức... Thiệt thức... Thân thức... Ý thức...

,(4)
,Xúc
,1-6:
,- Nhãn xúc... Nhĩ xúc... Tỷ xúc... Thiệt xúc... Thân xúc... Ý xúc...

,(5)
,Thọ
,1-6:
,- Thọ do nhãn xúc sanh... Thọ do nhĩ xúc sanh... Thọ do tỷ xúc sanh... Thọ do thiệt xúc sanh... Thọ do thân xúc sanh... Thọ do ý xúc sanh...

,(6)
,Tưởng
,1-6:
,- Sắc tưởng... Thanh tưởng... Hương tưởng... Vị tưởng... Xúc tưởng... Pháp tưởng...

,(7)
,Tư
,1-6:
,- Sắc tư... Thanh tư... Hương tư... Vị tư... Xúc tư... Pháp tư...

,(8)
,Ái
,1-6:
,- Sắc ái... Thanh ái... Hương ái... Vị ái... Xúc ái... Pháp ái...

,(9)
,Giới
,1-6:
,- Ðịa giới... Thủy giới... Hỏa giới... Phong giới... Không giới... Thức giới...

,(10)
,Uẩn
,1-4:
,- Sắc... Thọ... Tưởng... Hành...
,5- Thức là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
,- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều... không còn trở lui trạng thái này nữa".

,(11)
,Tùy Miên
,... Tại Sàvatthi.
,Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, do biết thế nào, do thấy thế nào, trong thân có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?
,1- Này Ràhula, phàm sắc nào quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với chánh trí tuệ là:
,- "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
,2. Phàm thọ nào... Phàm tưởng nào... Phàm hành nào... Phàm thức nào quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là:
,- "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
,3. Này Ràhula, do biết như vậy, do thấy như vậy, trong thân có thức này với tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến, không có ngã sở kiến, không có ngã mạn tùy miên.

,(12)
,Viễn Ly
,... Tại Sàvatthi.
,Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly được ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, siêu việt mọi ngã mạn, tịch tịnh, giải thoát?
,1- Này Ràhula, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với chánh trí tuệ là:
,- "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
,Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
,2. Này Ràhula, phàm thọ gì... phàm tưởng gì... phàm hành gì... phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là:
,- "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
,Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
,3. Này Ràhula, do biết như vậy, thấy như vậy, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt khỏi các ngã mạn, được tịch tịnh, giải thoát.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG LỢI ĐẮC-CUNG KÍNH

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 2

[Thiên Nhân Duyên]
Chương 6
TƯƠNG ƯNG LỢI ĐẮC-CUNG KÍNH

———————————————————————————————
PHẨM I
(Thứ Nhất)

,(1)
,Khổ Lụy
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi... tại vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo... Thế Tôn nói như sau:
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:
,- "Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta sẽ từ bỏ chúng. Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(2)
,Lưỡi Câu
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Ví như, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
,Người câu cá, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ma. Lưỡi câu, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
,Tỷ-kheo nào, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỷ-kheo ấy, được gọi là Tỷ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải học tập như sau:
,- "Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".

,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(3)
,Con Rùa
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Thuở xưa, trong một hồ nước có một gia đình con rùa sống tại đấy đã lâu ngày.
,Rồi một con rùa nói với một con rùa khác:
,- «Này Rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy".
,Con rùa này, đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng nó với cây lao có dây.
,Rồi con rùa ấy đi đến con rùa kia.
,Này các Tỷ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với con rùa này:
,- «Này Rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia?"
,- «Này Rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia".
,- «Này Rùa thân mến, bạn có bị thương, bị bắn trúng không?"
,- «Này Rùa thân mến, tôi không bị thương, không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính theo trên lưng tôi".
,- «Này Rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này Rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, mà cha Bạn và Ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi, Rùa thân mến. Nay Bạn không còn thuộc chúng ta nữa!"
,Người thợ săn, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ác ma. Cái lao, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng. Sợi dây, chỉ cho hỷ tham.
,Tỷ-kheo nào, đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng, hưởng thọ và ái luyến; vị ấy, được gọi là Tỷ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học.

,(4)
,Lông Dài
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Ví như, một con dê cái lông dài, đi vào một khóm cây gai góc; chỗ này, chỗ kia, nó bị mắc dính vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị mắc vướng vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị trói buộc vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị rơi vào bất hạnh, tai họa.
,Cũng như vậy, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị mắc dính vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị mắc vướng vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị trói cột vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị rơi vào bất hạnh, tai họa.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(5)
,Trùng Phẩn
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Ví như, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
,Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói:
,- "Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này".
,Cũng vậy, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
,Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỷ-kheo khoe khoang như sau:
,- "Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỷ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh".
,Vị ấy, bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỷ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỷ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(6)
,Sét Ðánh
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như thế này, sét đánh (được ví như) một người hữu học với tâm nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến?
,Này các Tỷ-kheo, sét đánh chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(7)
,Trúng Ðộc
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như thế này, bị mũi tên độc bắn trúng (được ví như) một người hữu học với tâm trí nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
,Mũi tên, chỉ cho các lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(8)
,Con Giả Can
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Các Ông có nghe chăng, trong ban đêm, khi trời gần sáng, có con giả can đang tru lớn tiếng?
,- Thưa có, bạch Thế Tôn.
,- Ðó là con giả can già, bị mắc bệnh ghẻ lở, không thoải mái trong những chỗ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái tại những chỗ lộ thiên; chỗ nào nó đi, chỗ nào nó đứng, chỗ nào nó ngồi, chỗ nào nó nằm, tại các chỗ ấy, nó cảm thấy bất hạnh, tai họa.
,Cũng vậy, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, không thoải mái trong những chỗ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái tại những chỗ lộ thiên; chỗ nào vị ấy đi, chỗ nào vị ấy đứng, chỗ nào vị ấy ngồi, chỗ nào vị ấy nằm, tại các chỗ ấy, vị ấy cảm thấy bất hạnh, tai họa.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(9)
,Cuồng Phong
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Trên thượng tầng hư không, có gió thổi mạnh gọi là cuồng phong. Con chim đi đến chỗ ấy, bị cuồng phong thổi bạt đi; bị cuồng phong thổi bạt đi, các chân đi một ngả, các cánh đi một ngả, đầu đi một ngả, thân đi một ngả.
,Cũng vậy, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, thân không chế ngự, lời nói không chế ngự, tâm không chế ngự, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
,Vị ấy thấy các phụ nữ, mặc y phục không đứng đắn, không khéo che đậy. Vị ấy thấy các phụ nữ mặc y phục không đứng đắn, không khéo che đậy, bị tham dục công phá tâm vị ấy. Do tham dục công phá tâm, vị ấy từ bỏ học tập, trở lại hoàn tục.
,Rồi có người lấy y phục, có người lấy bình bát, có người lấy tọa cụ, có người lấy ống kim của vị ấy, chẳng khác gì con chim bị cuồng phong thổi bạt.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(10)
,Kinh Với Bài Kệ
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Ở đây, Ta thấy có người bị sự cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,Ở đây, Ta thấy có người bị sự không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,Nhưng ở đây, Ta thấy có người bị cả hai cung kính và không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
,Ai khi được cung kính,
,Khi không được cung kính,
,Trong cả hai trường hợp,
,Tâm định, không lay chuyển;
,Sống hạnh không phóng dật,
,Tâm thường nhập Thiền tư,
,Với tâm tưởng tế nhị,
,Chánh quán các sở kiến,
,Không còn lạc chấp thủ,
,Ðược gọi bậc Chơn nhơn.

PHẨM II
(Thứ Hai)

,(1)
,Nói Láo (1)
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Ở đây, với tâm của Ta, Ta biết có người có tâm như sau:
,- "Dầu cho vì một bình bát vàng đựng đầy phấn bạch ngân, vị này cũng không cố ý nói láo".
,Trong một thời gian khác, Ta lại thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiến, đã cố ý nói láo.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(2)
,Nói Láo (2)
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Ở đây, với tâm của Ta, Ta biết có người có tâm như sau:
,- "Dầu cho vì một bình bát bạc đựng đầy phấn vàng, vị này cũng không có cố ý nói láo".
,Trong một thời gian khác, Ta lại thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, đã cố ý nói láo.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(3-10)
,Nói Láo-Từ Một Ðồng Tiền Vàng Cho Ðến Người Mỹ Nhân Ðịa Phương
,... Tại Sàvatthi.
,- Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết có người có tâm như sau:
,- "Dầu cho vì một đồng tiền vàng Nikkha...
,- "Dầu cho vì một trăm đồng tiền vàng Nikkha...
,- "Dầu cho vì một đồng tiền vàng ròng Nikkha...
,- "Dầu cho vì một trăm đồng tiền vàng ròng Nikkha...
,- "Dầu cho vì quả đất đầy những vàng...
,- "Dầu cho vì mọi lợi ích vật chất...
,- "Dầu cho vì mạng sống...
,- "Dầu cho vì người mỹ nhân địa phương, vị ấy cũng không cố ý nói láo."
,Trong một thời gian khác, Ta lại thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị chinh phục, đã cố ý nói láo.
,Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

PHẨM III
(Thứ Ba)

,(1)
,Phụ Nữ
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Với ai, tâm bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chinh phục và ngự trị, thời không một nữ nhân nào, với tâm của mình chinh phục và ngự trị tâm của người ấy.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(2)
,Mỹ Nhân
,... không một mỹ nhân nào...
,(tương tự như trên)

,(3)
,Con Trai
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Một tín nữ, chơn chánh khuyên dạy đứa con độc nhất, đáng yêu, đáng mến, sẽ khuyên dạy như sau:
,-"Này Con thân yêu, hãy giống như gia chủ Citta, hãy giống như Hattaka ở Alava!"
,Các vị ấy, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử cư sĩ của Ta, tức là gia chủ Hatthaka ở Alava.
,- "Này Con thân yêu, nếu con xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, này Con thân yêu, hãy giống như Sàriputta và Moggalàna!"
,Các vị ấy, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Sàriputta và Moggalàna.
,- "Này Con thân yêu, chớ để cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến người, kẻ hữu học với tâm đầy nhiệt tình".
,Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo hữu học với tâm đầy nhiệt tình, bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến, như vậy là chướng ngại cho vị ấy.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(4)
,Con Gái Một
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Một tín nữ, chơn chánh khuyên dạy đứa con gái độc nhất, đáng yêu, đáng mến, sẽ khuyên dạy như sau:
,- "Này Con thân yêu, hãy giống như nữ cư sĩ Khujjutarà và Velu-kandakiyà, mẹ của Nanda!"
,Các vị ấy, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, tức là nữ cư sĩ Khujjutarà và Velukandakiyà.
,- "Này Con thân yêu, nếu Con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; này Con thân yêu, hãy giống như Tỷ-kheo-ni Khema và Uppàlavanna!"
,Các vị ấy, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppàlavanna.
,- "Này Con thân yêu, chớ để cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến người, kẻ hữu học với tâm đầy nhiệt tình!"
,Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo-ni hữu học, với tâm đầy nhiệt tình, bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến, như vậy là chướng ngại cho vị ấy.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(5)
,Sa Môn , Bà La Môn (1)
, ... Tại Sàvatthi.
,1- Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, không có thể tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
,2. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta, đuợc chấp nhận là vị Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, có thể tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

,(6)
,Sa Môn, Bà La Môn (2)
,... Tại Sàvatthi.
,1. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, không như thật biết sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm và xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với với Ta, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại cũng không tự mình với thắng trì chứng ngộ, chứng đạt và an túc mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh.
,2. Và những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, như thật biết sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt... của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với ta được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy ngay trong đời sống hiện tại, có thể tự mình giác ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn và mục đích Bà-la-môn hạnh.

,(7)
,Sa Môn, Bà La Môn (3)
,... Tại Sàvatthi.
,1- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, không biết sự tập khởi của lợi đắc, cung kính, danh vọng, không biết sự đoạn diệt của lợi đắc, cung kính, danh vọng, không biết con đường đưa đến sự đoạn diệt của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta, không được chấp nhận... và mục đích của Bà-la-môn hạnh.
,2. Và những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết được sự tập khởi của lợi đắc, cung kính, danh vọng... và mục đích của Bà-la-môn hạnh.

,(8)
,Cắt Đứt (1)
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Lợi đắc, cung kính, danh vọng, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(9)
,Cắt Đứt (2)
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,1. Lợi đắc, cung kính, danh vọng, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
,2. Ví như, một lực sĩ lấy dây ngựa cứng chắc, vấn xung quanh cổ chân và siết chặt lại. Dây ấy cắt đứt da ngoài, cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
,Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt giây gân. Sau khi cắt đứt giây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(10)
,Tỷ Kheo
,... Tại Sàvatthi.
,1- Vị Tỷ-kheo nào, là bậc Ứng Cúng, đã đoạn tận các lậu hoặc; Ta nói, lợi đắc, cung kính, danh vọng vẫn là pháp chướng ngại cho vị Tỷ-kheo ấy.
,Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, với vị Tỷ-kheo, lậu hoặc nào được đoạn tận thì các lợi đắc, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp?
,2- Ðối với vị đã chứng bất động tâm giải thoát, Ta không nói rằng, các lợi đắc, cung kính, danh vọng trở thành một chướng ngại pháp cho vị ấy.
,3. Và đối với những ai sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần; những người chứng được hiện tại lạc trú; đối với những người ấy, Ta nói rằng, lợi đắc, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp.
,4. Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Do vậy, này Ananda, cần phải học tập như vầy:
,5- "Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".
,Như vậy, này Ananda, Ông cần phải học tập.

PHẨM IV
(Thứ Tư)

,(1)
,Phá Hoại
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, Devadatta, phá hoại Tăng chúng.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(2)
,Thiện Căn
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, thiện căn của Devadatta bị cắt đứt.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(3)
,Thiện Pháp
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, thiện pháp của Devadatta bị cắt đứt.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(4)
,Pháp Trắng
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối và tâm bị xâm chiếm, bạch pháp của Devadatta bị cắt đứt.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(5)
,Các Ví Dụ
,Một thời Thế Tôn ở Ràjàgaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại núi Gujjhakuuta (Linh Thứu), sau khi Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) bỏ đi không bao lâu.
,Rồi Thế Tôn nhân vì Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
,1. Ví như cây chuối, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
,2. Ví như cây tre, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
,3. Ví như cây lau, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
,4. Ví như con lừa có thai đưa đến tự hại, có thai đưa đến diệt vong. Cũng vậy, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
,5. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói như sau:
,Như cây chuối sanh quả,
,Sanh quả đem tự hại,
,Cũng vậy, quả cây tre,
,Cũng vậy, quả cây lau,
,Cũng vậy với kẻ ngu,
,Cung kính đem tự hại,
,Như con lừa mang thai,
,Mang thai đem tự hại.

,(6)
,Cúng
,Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.
,Lúc bấy giờ, hoàng tử Ajàtasattu (A-xà-thế) sáng chiều đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn.
,Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch với Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn.
,- Này các Tỷ-kheo, chớ có thèm lợi đắc, cung kính, danh vọng của Devadatta. Chừng nào, hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều còn đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn; thời đối với Devadatta, chỉ có chờ đợi sự tổn giảm trong thiện pháp, không có sự tăng trưởng.
,Ví như, đem bóp nát lá gan trước lỗ mũi một con chó dữ. Như vậy, con chó ấy lại càng dữ tợn bội phần. Cũng vậy, chừng nào hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều còn đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe, và còn cúng dường các món đồ ăn trong năm trăm chiếc mâm bàn; thời đối với Devadatta, chỉ có chờ đợi sự tổn giảm trong thiện pháp, không có sự tăng trưởng.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(7)
,Nói Láo (1)
, ... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Ở đây, với tâm của Ta, Ta biết được tâm của một người như sau:
,- "Dầu cho vì bà mẹ đáng kính cũng không cố ý nói láo".
,Nhưng trong một thời gian khác, Ta thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, đã cố ý nói láo.
,Như vậy khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập:
,- "Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

,(8-13)
,Nói Láo (2)
,... Tại Sàvatthi.
,- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật tà đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Ở đây, với tâm của Ta, Ta biết được tâm của một người như sau:
,- "Dầu cho vì người cha đáng kính...".
,- "Dầu cho vì người anh...".
,- "Dầu cho vì người chị...".
,- "Dầu cho vì con trai...".
,- "Dầu cho vì con gái...".
,- "Dầu cho vì người vợ, cũng không cố ý nói láo".
,Nhưng trong một thời gian khác, Ta thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm đã cố ý nói láo.
,Như vậy, khổ lụy, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp do sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:
,- "Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".
,Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG KASSAPA

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 2

[Thiên Nhân Duyên]
Chương 5
TƯƠNG ƯNG CA-DIẾP

———————————————————————————————
,[I]
,Tri Túc
,... Trú ở Sàvatthi.
[1]
,1. Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại y nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào; không vì y làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, vị này không có dao động. Và nếu được y, vị này dùng y không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
,2. Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kasssapa này, với bất cứ đồ ăn khất thực nào, tán thán hạnh tri túc với bất cứ đồ ăn khất thực nào; không vì đồ ăn khất thực, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được đồ ăn khất thực, vị này không có dao động. Và nếu được đồ ăn khất thực, vị này dùng đồ ăn khất thực ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
,3. Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại sàng tọa nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng tọa nào; và không vì sàng tọa, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao động. Và nếu được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
,4. Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ thuốc men trị bệnh nào. Và vị này tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào; và không vì duyên với thuốc men trị bệnh, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, vị này không có dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, vị này dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
[2]
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau:
,1- "Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại y nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào. Và không vì y, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được y, chúng tôi sẽ dùng y ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
,2- Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào... với bất cứ loại sàng tọa nào... với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán sự tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào. Và không vì thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các ông cần phải học tập".
,3. Với Kassapa, Ta sẽ giáo giới các Ông; hay với người như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông cần phải thực hành như vậy.

,[II]
,Không Biết Sợ
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Barànasi (Ba-la-nại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadàya (Lộc Uyển).
,Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kassapa những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
,- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
,Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?
,1- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: "Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không khởi nhiệt tâm. "Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không khởi nhiệt tâm. "Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không khởi nhiệt tâm. "Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không khởi nhiệt tâm.
,Như vậy, là không có nhiệt tâm.
,2. Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
,Ở đây, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: "Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không có biết sợ. "Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không biết sợ. "Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không biết sợ. "Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy không biết sợ.
,Như vậy, là không biết sợ.
,Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

,3. Và này Hiền giả, thế nào là có nhiệt tâm?
,Ở đây, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: "Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. "Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. "Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. "Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. "Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi lên nhiệt tâm.
,Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm.
,Và như thế nào là có biết sợ?
,Ở đây, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: "Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy có biết sợ. "Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy có biết sợ. "Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy có biết sợ. "Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy có biết sợ.
,Như vậy, là có biết sợ.
,Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết- bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

,[III]
,Ví Dụ Với Trăng
,... Trú ở Sàvatthi...
,- Hãy giống như mặt trăng, này các Tỷ-kheo, khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha).
,1. Ví như, một người nhìn một cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Cũng vậy, hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
,Kassapa, giống như mặt trăng, khi đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
,2. Các Ông nghĩ thế nào? Như thế nào một Tỷ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình?
,- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ sở y. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
,Rồi Thế Tôn vẫy bàn tay giữa hư không:
,3- Ví như, bàn tay này giữa hư không, không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy, là vị Tỷ-kheo đi đến các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng:
,- "Những ai muốn được lợi, hãy được lợi! Những ai muốn công đức, hãy làm các công đức!".
,Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn khi người khác được lợi! Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.
,Kassapa khi đi đến các gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng:
,- "Những ai muốn được lợi hãy được lợi! Những ai muốn công đức hãy làm các công đức!".
,4. Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!
,Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.
,5. Các Ông nghĩ như thế nào? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp không thanh tịnh? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp được thanh tịnh?
,- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
,- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
,6- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác:
,- "Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hoan hỷ. Ðược hoan hỷ, mong họ làm cho ta hoan hỷ",
vị Tỷ-kheo như vậy thuyết pháp không thanh tịnh.
,7- Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác:
,- "Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh (dhammasudhammata) thuyết pháp cho các người khác. Duyên lòng từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác",
Tỷ-kheo như vậy là Tỷ-kheo thanh tịnh thuyết pháp.
,Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác :
,- "Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi được hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh, duyên từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác".
,8. Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta đã giáo giới các Ông, hay với ai giống như Kassapa! Ðược giáo giới, các Ông phải như thật thực hành.

,[IV]
,Ði Ðến Các Gia Ðình
,... Trú tại Sàvatthi.
,- Các Ông nghĩ thế nào, Tỷ-kheo như thế nào xứng đáng là người đi đến các gia đình? Tỷ-kheo như thế nào không xứng đáng là người đi đến các gia đình?
,- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo...
,Thế Tôn nói như sau:
[1]
,1- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm như thế này đi đến các gia đình:
,- "Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có không kính trọng".
,2. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu... cho ít, không cho nhiều... cho đồ xấu không cho đồ tốt... cho chậm, không cho mau. Do vậy Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu... cho bất kính, không có kính trọng. Do vậy, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu.
,3. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy không xứng đáng là người đi đến các gia đình.
[2]
,1. Và Tỷ-kheo nào với tâm như thế này đi đến các gia đình (nghĩ rằng):
,- "Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: ‘Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng ta, chớ có không kính trọng’?".
,2. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo với tâm như vậy, khi đi đến các gia đình không được cho, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều... họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, cho chậm, không cho mau... cho bất kính, không phải kính trọng, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.
,3. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.
[3]
,1. Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình (nghĩ rằng):
,- "Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: "Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có bất kính"?"
,2. Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho chậm, không cho mau, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho bất kính, không cho có kính trọng, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.
,3. Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các Ông hay với ai giống như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông hãy như vậy thọ trì.

,[V]
,Trở Về Già
,Như vầy tôi nghe.
,Tại Ràjagaha, Veluvana... Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
,- Này Kassapa, Ông đã già rồi. Ðã cũ nát là những vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở gần bên Ta.
,1- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
,2- Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích gì mà ông đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... đi khất thực.. mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?
,- Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đã lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... con đi khất thực... con mang y phấn tảo... con mang ba y... con thiểu dục... con tri túc... con sống viễn ly... con sống không giao thiệp... con sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần.
,3. Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (ditthanugatim):
,- "Ðối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... những vị đi khất thực... những vị mang y phấn tảo... những vị mang ba y... những vị thiểu dục... những vị tri túc... những vị viễn ly... những vị không giao thiệp... những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần... họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc".
,Bạch Thế Tôn, thấy được hai lợi ích này, con sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... con đi khất thực và tán thán hạnh khất thực... mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... viễn ly... không giao thiệp... sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
,- Lành thay, lành thay, Kassapa! Thật vì hạnh phúc cho quần sanh, Ông đã thực hành như vậy, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn với đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
,4. Do vậy, này Kassapa, hãy mang vải gai thô, phấn tảo đáng được quăng bỏ. Hãy sống khất thực và trú ở trong rừng!

,[VI]
,Giáo Giới (1)
,... Tại Ràjagaha, Veluvana... Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn... Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
,- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỷ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
,- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới.
,Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau:
,- "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?".
,Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
,- Hãy đến, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói với Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha:
,- "Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả".
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo kia; sau khi đến, nói với họ:
,- Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả.
,- Thưa vâng, Hiền giả.
,Các Tỷ-kheo kia vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
,Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:
,- Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với nhau như sau:
,- "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?"
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,- Này các Tỷ-kheo, các Ông có biết là Ta đã thuyết pháp như vầy:
,- "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy cùng nhau nói như sau: 'Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn?. Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?' chăng?"
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông được biết là Ta không có giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do biết cái gì, thấy cái gì, các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này, các Ông lại nói với nhau:
,- "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?" như vậy ?
,Rồi các Tỷ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với nhau:
,- "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?".
,Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của chúng con là tội lỗi, để chúng con ngăn ngừa trong tương lai.
,- Thật sự, này các Tỷ-kheo, các Ông đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các Ông đã nói với nhau:
,- "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?".
,Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, các Ông đã thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối, Ta chấp nhận tội lỗi ấy cho các Ông!
,Này các Tỷ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!

,[VII]
,Giáo Giới (2)
,... Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm).
,Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn... Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
,- Này Kassapa hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Ta hay Ông hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
,- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới!
,1. Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
,Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần.
,Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
,Người không có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết sợ, tức có nghĩa là tổn giảm. Người lười biếng, tức có nghĩa là tổn giảm. Người ác trí tuệ, tức có nghĩa là tổn giảm. Người phẫn nộ... Người sân hận, tức có nghĩa là tổn giảm. Nếu vị Tỷ-kheo không có giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.
,2. Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
,Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần.
,Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn...có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.
,Người có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết thẹn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết sợ, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người tinh cần, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không phẫn nộ, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không sân hận, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có những Tỷ-kheo giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

,- Lành thay, lành thay, này Kassapa!
,3. Với ai, không có lòng tin đối với thiện pháp... không có biết thẹn... không có biết sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm trong thiện pháp, không phải là tăng trưởng.
,Ví như mặt trăng, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, quỹ đạo nó đi tổn giảm dần.
,Cũng vậy, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn... không có biết sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng.
,Người không có lòng tin, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn... Người không biết sợ... Người biếng nhác... Người ác trí tuệ... Người phẫn nộ... Người sân hận, tức có nghĩa là tổn giảm.
,Không có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm.
,4. Với ai, có lòng tin đối với thiện pháp... có biết thẹn... có biết sợ... có tinh tấn.. có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.
,Ví như mặt trăng, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần.
,Cũng vậy, ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn... có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ là sự tăng trưởng đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là sự tổn giảm.
,Người có lòng tin, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người biết thẹn... Người biết sợ... Người tinh tấn... Người có trí tuệ... Người không phẫn nộ... Người không sân hận, tức có nghĩa là không tổn giảm.
,Có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm.

,[VIII]
,Giáo Giới (3)
,... Trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
,Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn... Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
,- Hãy giáo giới Tỷ-kheo! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, này Kassapa! Ta hay Ông, phải giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hay Ta, hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
,- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới.
,- Này Kassapa, thuở xưa các Trưởng lão Tỷ-kheo là những vị ở rừng như vậy và tán thán ở rừng, là những vị đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, là những vị mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, là những vị mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, là những vị sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, là những vị sống tri túc và tán thán hạnh tri túc, là những vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly, là những vị sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, là những vị sống tinh cần và[tán thán hạnh tinh cần.
,Ở đây, vị Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng, đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, sống tri túc và tán thánh hạnh tri túc, sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly, sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần; vị Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói:
,- "Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, vị Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, vị Tỷ-kheo này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!"
,Ở đây, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ như sau:
,- "Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng, đi khất thực... mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần; Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói:
,- "Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, Tỷ-kheo này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này".
,Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy được hạnh phúc, được an lạc trong một thời gian dài.
,Nhưng nay, các Trưởng lão Tỷ-kheo không sống ở rừng và không tán thán hạnh sống ở rừng, không đi khất thực và không tán thán hạnh khất thực, không mang y phấn tảo và không tán thán hạnh mang y phấn tảo, không mang ba y và không tán thán hạnh mang ba y, không thiểu dục và không tán thán hạnh thiểu dục, không tri túc và không tán thán hạnh tri túc, không sống viễn ly và không tán thán hạnh viễn ly, không sống không giao thiệp và không tán thán hạnh không giao thiệp, không tinh cần và không tán thán hạnh tinh cần.
,Ở đây, Tỷ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói:
,- "Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỷ-kheo này! Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!"
,Ở đây, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ như sau:
,- "Tỷ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói:
,- ‘Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỷ-kheo này! Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!’".
,Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy không được hạnh phúc, bị khổ đau trong thời gian dài.
,Này Kassapa, ai nói một cách chơn chánh như sau:
,- "Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh".
,Nói như vậy, là nói một cách chơn chánh:
,- Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh.


,[IX]
,Thiền Và Thắng Trí
,... Trú ở Sàvatthi.
[1]
,1- Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
,2. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
,3. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ]ba.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
,4. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
,5. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng. Ta nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng... chứng đạt và an trú Không vô biên xứ.
,6. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vượt lên mọi Không vô biên xứ... chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.
,7. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vượt lên mọi Thức vô biên xứ... chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.
,8. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng... chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
,9. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
,Tùy theo mong muốn... Kassapa cũng... chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
[2]
,1. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta chứng đạt các loại thần thông. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên, đi ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng chứng đạt được các loại thần thông... bay đến cõi Phạm thiên.
,2. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Người, xa và gần.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với thiên nhĩ thanh tịnh... xa và gần.
,3. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài Người với tâm của mình, Ta có thể biết như sau:
,- "Tâm có tham biết là tâm có tham, tâm không tham biết là tâm không tham, tâm có sân biết là tâm có sân, tâm không sân biết là tâm không sân, tâm có si biết là tâm có si, tâm không si biết là tâm không si, tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú, tâm không chuyên chú biết là tâm không chuyên chú, đại hành tâm biết là đại hành tâm, không phải đại hành tâm biết là không phải đại hành tâm, tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng, tâm vô thượng biết là tâm vô thượng, tâm Thiền định biết là tâm Thiền định, tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định, tâm giải thoát biết là tâm giải thoát, tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát".
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài Người; với tâm của mình, Kassapa cũng được biết như sau:
,- "Tâm có tham biết là tâm có tham... tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát".
,4. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại thành kiếp. Ta nhớ rằng:
,- "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây".
,Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời... và các chi tiết.
,5. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy các chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh ấy làm những ác hạnh về thân, lời, ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này.
,Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của.chúng sanh. Ta biết rõ chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết các chúng sanh... đều do hạnh nghiệp của họ.
,6. Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đạt và an trú.
,Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đạt và an trú.

,[X]
,Trú Xứ
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Tôn giả Kassapa trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
[1]
,Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa. Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:
,- Thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
,- Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
,Lần thứ hai, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:
,- Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
,- Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
,Lần thứ ba, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:
,- Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
,Rồi Tôn giả Mahà Kassapa, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát cùng với Tôn giả Ananda, là Sa-môn tùy tùng, đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
[2]
,Rồi nhiều Tỷ-kheo-ni đi đến đảnh lễ Tôn giả Mahà Kassapa, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahà Kassapa với pháp thoại giảng cho các vị Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
,Rồi Tôn giả Mahà Kassapa, sau khi với pháp thoại giảng cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.
,Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissà không hoan hỷ, nói lên những lời không hoan hỷ:
,- "Làm sao Tôn giả Mahà Kassapa trước mặt Vedehamuni Ananda, lại nghĩ đến thuyết pháp; ví như một người bán kim lại nghĩ, có thể bán kim cho người làm kim? Cũng vậy, Tôn giả Mahà Kassapa, trước mặt Vedehamuni Ananda lại nghĩ đến thuyết pháp".
,Tôn giả Mahà Kassapa nghe được lời nói này của Tỷ-kheo-ni Thullatissà.
[3]
,Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:
,- Thế nào, Hiền giả Ananda, ta là người bán kim, Hiền giả là người làm kim, hay ta là người làm kim, Hiền giả là người bán kim?
,- Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả Kassapa, ngu si là đàn bà!
,- Hãy đến, Hiền giả Ananda, chớ để cho chúng Tăng truy cứu thêm về Hiền giả. Hiền giả Ananda, Hiền giả nghĩ thế nào?
,Có phải trước mặt Thế Tôn, và giữa chúng Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau:
,1- "Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ananda cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ"?
,- Thưa Tôn giả, không phải vậy.
,- Này Hiền giả, có phải trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, ta được Thế Tôn đề cập như sau:
,- "Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
,Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ"?
,2. (Chín thứ đệ định và năm trí giống như trên)
,3. Hiền giả nghĩ thế nào? Này Hiền giả, có phải, này Ananda, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau:
,- "Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
,Này các Tỷ-kheo, Ananda cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát"?
,- Thưa Tôn giả, không phải vậy.
,- Chính ta, này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo, được Thế Tôn đề cập như sau:
,- "Này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
,Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát".
,4. Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
,Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissà đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.

,[XI]
,Y Áo
,Một thời Tôn giả Mahà Kassapa trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
[1]
,Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đang đi du hành ở Dakhinàgiri (Nam Sơn), cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ có khoảng ba mươi Tỷ-kheo đệ tử của Tôn giả Ananda, phần lớn còn trẻ tuổi, từ bỏ sự tu học và hoàn tục.
,Rồi Tôn giả Ananda, sau khi du hành ở Nam Sơn, tùy theo ý muốn, rồi đi đến Vương Xá, Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda đang ngồi xuống một bên:
,1- Duyên bao nhiêu lợi ích, này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chế định điều luật "Chỉ ba người ăn" đối với các gia chủ?
,- Duyên ba lợi ích, thưa Tôn giả Kassapa, nên Thế Tôn chế định điều luật "Chỉ ba người ăn" đối với các gia chủ: để ngăn chận các người ác giới, vì sự lạc trú của các Tỷ-kheo chánh hạnh, chớ để cho ai dựa vào những ác đảng phá hoại chúng Tăng, và vì lòng từ mẫn đối với các gia đình.
,Thưa Tôn giả Kassapa, do duyên ba lợi ích này nên Thế Tôn chế định điều luật "Chỉ ba người ăn" đối với các gia chủ.
,2- Vậy thời vì sao, Hiền giả lại cùng du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác? Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, đang tan rã! Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình!
,- Thưa Tôn giả Kassapa, trên đầu tôi, tóc bạc đã sanh, tuy vậy, hôm nay Tôn giả Mahà Kassapa gọi tôi là đứa trẻ, tôi không có phật lòng.
,- Thật vậy, này Hiền giả Ananda, Hiền giả du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, đang tiêu diệt. Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình.
[2]
,Tỷ-kheo-ni Thullatissà được nghe Tôn giả Ananda, bậc Thánh Vedeha lại bị Tôn giả Mahà Kassapa không hài lòng và gọi là "đứa trẻ".
,Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissà không hoan hỷ và thốt ra những lời không hoan hỷ:
,1- "Sao Tôn giả Mahà Kassapa, trước kia là người theo ngoại đạo, lại nghĩ có thể không hài lòng và gọi Tôn giả Ananda, bậc Thánh Vedeha là đứa trẻ?"
,Tôn giả Mahà Kassapa được nghe những lời của Tỷ-kheo-ni Thullatissà nói như vậy.
,Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:
,2- Này Hiền giả Ananda, lời nói của Tỷ-kheo-ni Thullatissà thật là đường đột, không đắn đo suy nghĩ!
[3]
,1. Này Hiền giả, vì rằng ta là người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ta không chấp nhận một Ðạo Sư nào khác ngoài Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác.
,Này Hiền giả, trong khi ta còn là gia chủ, ý nghĩ sau đây được khởi lên:
,2- "Chật hẹp thay đời sống tại gia, đầy những bụi đời! Còn xuất gia như đời sống ngoài trời. Thật không dễ dàng ở trong gia đình có thể sống Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
,Rồi này Hiền giả, sau một thời gian ta lấy vải cắt làm áo Tăng-già-lê, và theo thông lệ các vị Ứng Cúng ở đời, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
,Xuất gia như vậy, ta đang đi trên đường, thấy Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Bahaputta giữa Ràjagaha và Nàlandà. Thấy vậy, ta suy nghĩ như sau:
,3- "Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Ðạo Sư, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Thiện Thệ, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Chánh Ðẳng Giác, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn?"
,Và này Hiền giả, ngay tại chỗ ấy, ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- «Bạch Thế Tôn, Ðạo Sư của con là Thế Tôn. Con là đệ tử".
,Khi nghe nói vậy, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:
,4- Này Kassapa, những ai với tâm trọn vẹn đầy đủ, không biết một đệ tử mà nói rằng tôi biết, không thấy mà nói rằng tôi thấy, đầu người ấy sẽ vỡ tan. Còn Ta, này Kassapa, Ta biết thời Ta nói Ta biết, Ta thấy thời Ta nói Ta thấy.
,Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau:
,5- 'Một tàm quý thật sắc sảo sẽ phải được thiết lập giữa các vị Trưởng lão, niên thiếu và trung niên'.
,Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy.
,Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau:
,6- 'Phàm pháp gì tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt chú ý, tác ý, tập trung tất cả tâm (lực), tất cả pháp ấy tôi đều lóng tai nghe'.
,Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy.
,Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau:
,7- 'Phàm niệm gì thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ, ta sẽ không bỏ niệm ấy'.
,Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy".
,Rồi này Hiền giả, Thế Tôn sau khi giáo giới ta với lời giáo giới ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
[4]
,1. Trong bảy ngày, này Hiền giả, đang còn phiền não, ta ăn món ăn của quốc độ, đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.
,Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây. Rồi ta xấp tư tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt, rồi bạch Thế Tôn:
,2- «Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ngồi xuống ở đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài".
,Này Hiền giả, Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
,Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với ta:
,- Thật là mềm dịu, này Kassapa, là tấm y Tăng-già-lê này làm bằng vải cắt của Ông".
,3- «Bạch Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từ mẫn đối với con".
,- Này Kassapa, Ông có dùng tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Ta không?".
,- Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Thế Tôn".
,Như vậy, này Hiền giả, ta cúng cho Thế Tôn tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt; còn ta thời dùng tấm y phấn tảo của Thế Tôn, làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ.
[5]
,Và này Hiền giả, nếu ai có nói về ta một cách chơn chánh, thời ta là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đã nhận được tấm y phấn tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ.
,1. Này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
,2. Và này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta...
,...(chín thứ đệ định và năm thắng trí)...
,3. Và này Hiền giả, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
,4. Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
,Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissà đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.

,[XII]
,Sau Khi Chết
,Một thời Tôn giả Mahà Kassapa và Tôn giả Sàriputta trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), ở Migadaya (Lộc Uyển). Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên.
,1. Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
,- Này Hiền giả Kassapa, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
,- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết".
,- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết?
,- Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố:
,- "Như Lai không tồn tại sau khi chết".
,- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai có tồn tại, và không tồn tại sau khi chết?
,- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố:
,- "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".
,- Vậy này Hiền giả, có phải Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
, Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố:
,-"Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2. Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn không có tuyên bố như vậy?
,Vì đây, không đưa đến lợi ích, không đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn không có tuyên bố như vậy.
,3. Vậy này Hiền giả, Thế Tôn tuyên bố cái gì?
,- "Ðây là khổ", này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là khổ tập", Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là khổ diệt", Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt", Thế Tôn đã tuyên bố.
,Vì sao Thế Tôn đã tuyên bố như vậy?
,Vì đây, đưa đến lợi ích, đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.

,[XIII]
,Tượng Pháp
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, vườn ông Anàthapindika.
,Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
[1]
,Tôn giả Mahà Kassapa bạch Thế Tôn:
,1- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thuở trước, học giới có ít hơn nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí nhiều hơn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ngày nay học giới có nhiều hơn, nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí ít hơn?.
,- Sự việc xảy ra như vậy, này Kassapa, trong thời các chúng sanh suy giảm, trong thời diệu pháp biến mất, thời nhiều hơn là các học giới, ít hơn là các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí.
,2. Này Kassapa, diệu pháp không biến mất cho đến khi nào tượng pháp không hiện ra ở đời. Và khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.
,Ví như, vàng (thật) không biến mất khi nào vàng giả chưa hiện ra ở đời. Và khi nào vàng giả hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất.
,Cũng vậy, diệu pháp không biến mất, khi nào tượng pháp chưa hiện ra ở đời. Và khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.
[2]
,Này Kassapa, địa giới không làm diệu pháp biến mất, thủy giới... hỏa giới... phong giới không làm diệu pháp biến mất.
,1. Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm diệu pháp biến mất.
,Ví như, chiếc thuyền bị chìm vì chở quá nặng. Không phải vì vậy, diệu pháp bị biến mất.
,2. Này Kassapa, có năm thối pháp khiến cho diệu pháp bị hỗn loạn và biến mất.
,Thế nào là năm?
,Ở đây, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống không tôn kính, không tùy thuận Chánh pháp, sống không tôn kính, không tùy thuận chúng Tăng, sống không tôn kính, không tùy thuận học giới, sống không tôn kính, không tùy thuận đối với Thiền định.
,Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp.
,3. Và có năm pháp, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp.
,Thế nào là năm?
,Ở đây, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống kính trọng, tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống kính trọng, tùy thuận Chánh pháp, sống kính trọng, tùy thuận chúng Tăng, sống kính trọng, tùy thuận học giới, sống kính trọng tùy thuận Thiền định.
,Chính năm pháp này, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục