[Các Liên Kết]

MỤC LỤC: KINH TẠNG
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-4. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-4. Hiển thị tất cả bài đăng

TƯƠNG ƯNG KHÔNG THUYẾT

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 4

[Thiên Sáu Xứ]
Chương 10
TƯƠNG ƯNG KHÔNG NÓI

———————————————————————————————
,[I]
Trưởng Lão Ni Khemà
,Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.
,Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Khemà đang đi du hành giữa dân chúng Kosala và trú ở tại Toranavatthu, giữa Sàvatthi và Sàketà.
,Vua Pasenadi nước Kosala cũng đang đi từ Sàketa đến Sàvatthi và trú một đêm ở Toranavatthu, giữa Sàketa và Sàvatthi. Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi một người và nói:
,- Hãy đến, này Người kia. Ông có biết vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào ở tại Toranavatthu để hôm nay ta có thể đến yết kiến vị ấy?
,- Thưa vâng, tâu Ðại vương.
,Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi tìm khắp Toranavatthu không thấy có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để vua Pasenadi nước Kosala có thể đến yết kiến.
,Rồi người ấy thấy Tỷ-kheo-ni Khemà đến trú ở Toranavatthu; sau khi thấy, người ấy đi đến vua Pasenadi nước Kosala và thưa:
,- Tâu Ðại vương, tại Toranavatthu không có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để Ðại vương có thể yết kiến. Nhưng tâu Ðại vương, có Tỷ-kheo-ni Khemà là đệ tử của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
,Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về bậc nữ Tôn giả ấy:
,- "Nữ Tôn giả là bậc hiền trí, thông minh, có trí, nghe nhiều, lời nói đến tâm, ứng đáp lanh lợi".
,Ðại vương có thể đến yết kiến vị ấy.
,Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà; sau khi đến, đảnh lễ vị ấy rồi ngồi xuống một bên.
[1]
,Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tỷ-kheo-ni Khemà:
,1- Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
,- Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết".
,2- Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?
,- Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không có tồn tại sau khi chết".
,3- Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
,- Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".
,4- Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,- Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,5- Ðược hỏi: "Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?", Nữ Tôn giả trả lời: "Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không?", Nữ Tôn giả trả lời: "Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?", Nữ Tôn giả trả lời: "Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?", Nữ Tôn giả trả lời: "Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".
,6- Thưa Nữ Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại không trả lời?
[2]
,- Vậy thưa Ðại vương, ở đây, tôi sẽ hỏi Ðại vương. Ðại vương kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
,1- Ðại vương nghĩ thế nào, thưa Ðại vương, Ðại vương có người kế toán nào, chưởng ấn nào (muddiko), toán số nào có thể đếm được cát sông Hằng có số hột cát như vậy, có số trăm hột cát như vậy, có số ngàn hột cát như vậy, có số trăm ngàn hột cát như vậy?
,- Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.
,2- Ðại vương có người kế toán nào, có người chưởng ấn nào, có người toán số nào có thể đong lường được nước của biển lớn có số đấu nước như vậy, có số trăm đấu nước như vậy, có số ngàn đấu nước như vậy, có số trăm ngàn đấu nước như vậy?
,- Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.
,- Vì sao? Thưa Nữ Tôn giả, vì rằng biển lớn thâm sâu, vô lường, khó dò đến đáy.
[3]
,1- Cũng vậy, thưa Ðại vương, nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua sắc thân (rupeena), nhưng sắc thân ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của sắc thân.
,Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn.
,Nói rằng: "Như Lai có tồn tại sau khi chết", không thể chấp nhận. Nói rằng: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết", cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết", cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", cũng không thể chấp nhận.
,2- Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua cảm thọ, nhưng cảm thọ ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của cảm thọ.
,Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn.
,3. Nói rằng: "Như Lai có tồn tại sau khi chết", không thể chấp nhận... Nói rằng: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", cũng không thể chấp nhận.
,4. Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai qua các tưởng... qua các hành... qua các thức; nhưng thức ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của thức.
,Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn.
,5. Nói rằng: "Như Lai có tồn tại sau khi chết", không thể chấp nhận. Nói rằng: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết", cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: "Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết", cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", cũng không thể chấp nhận.
,Rồi vua Pasanadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời của Tỷ-kheo-ni Khemà, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Khemà, thân phía hữu hướng về Nữ Tôn giả rồi ra đi.
[4]
,Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau một thời gian, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
,1- Bạch Thế Tôn, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
,- Thưa Ðại vương, Ta không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết".
,2- Thế là, thưa Thế Tôn, Như Lai không có tồn tại sau khi chết?
,- Thưa Ðại vương, Ta cũng không trả lời:
,- "Như Lai không có tồn tại sau khi chết".
,... (Như trên, với những thay đổi cần thiết)...
[5]
,- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
,Một thời, bạch Thế Tôn, con đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà và hỏi về ý nghĩa này. Nữ Tôn.giả ấy đã trả lời cho con về ý nghĩa này với những câu này, với những lời này, giống như Thế Tôn.
,- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
,Bạch Thế Tôn, nay con phải đi, con có nhiều công vụ, nhiều việc phải làm.
,- Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
,Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

,[II]
Anuràdha
,Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường.
,Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha đang ở một ngôi chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi rất nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
[1]
,Ngồi một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy thưa với Tôn giả Anuràdha:
,1- Này Hiền giả Anuràdha, Như Lai là bậc Thượng Nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy đã được trình bày dưới bốn trường hợp:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2- Thưa chư Hiền, Như Lai ấy là bậc Thượng nhân, bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy được trình bày ngoài bốn trường hợp sau đây:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,Khi được nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Anuràdha:
,3- Tỷ-kheo này có lẽ là mới tu, xuất gia không bao lâu. Hay nếu là vị trưởng lão, thời vị này là ngu si, không có thông minh.
,Các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê trách (apasàdetvà) Tôn giả Anuràdha là người mới tu và ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
,4. Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các du sĩ ngoại đạo ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ:
,- "Nếu các du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để câu ta trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy là đúng với lời Thế Tôn, ta không có xuyên tạc Thế tôn với điều không thật. Ta trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai nói lời tương ứng đúng pháp, không có cơ hội để chỉ trích".
[2]
,Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn về những điều ấy.
,Thế Tôn nói:
,1- Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
,- Là khổ, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,2-4:
,- Thọ là thường hay vô thường?... Tưởng là thường hay vô thường?... Các hành là thường hay vô thường?...
,5- Thức là thường hay vô thường?
,- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
,- Là khổ, bạch Thế Tôn.
,- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy:
,- "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
[3]
,1- Do vậy, này Anuràdha, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ rằng:
,- "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi".
,2-4:
,Phàm có thọ gì, quá khứ, vị lai, hiện tại... Phàm có tưởng gì... Phàm có các hành gì...
,5. Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ rằng:
,- "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi".
,Thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát.
,Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng:
,- "Ta đã được giải thoát".
,Vị ấy biết rõ:
,- "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
[4]
,1- Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán sắc là Như Lai không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,. Ông có quán thọ là Như Lai không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán tưởng là Như Lai không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán các hành là Như Lai không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán thức là Như Lai không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,2- Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán Như Lai ở trong sắc không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở ngoài sắc không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở trong thọ không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở ngoài thọ không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở trong tưởng không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở ngoài tưởng không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở trong các hành không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở ngoài các hành không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở trong thức không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai ở ngoài thức không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,3- Ông nghĩ như thế nào, này Anuràdha, Ông có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức hay không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,- Ông có quán Như Lai là không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có thức hay không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
[5]
,1- Ở đây, này Anuràdha, Ông ngay trong hiện tại không có nắm được Như Lai một cách chân thật, một cách xác chứng, thời có hợp lý chăng khi Ông tuyên bố về Như Lai rằng:
,- "Thưa chư Hiền, Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy được biết đến ngoài bốn trường hợp sau đây: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,2- Lành thay, lành thay!
,Này Anuràdha. Trước đây và hiện nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.

,[III]
Sàriputta-Kotthika (1) (hay Trú trước)
,Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Barànasi, tại Isipatana, trong]vườn Nai.
,Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
[1]
,Ngồi một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sàriputta:
,1- Thưa Hiền giả Sàriputta, Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không?
,- Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết".
,2- Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?
,- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại sau khi chết".
,3- Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
,- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".
,4- Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,5- Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, thế là Như Lai không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’". Ðược hỏi: "Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, thế là Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".
,6. Thưa Hiền giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại không trả lời?
[2]
,1- "Như Lai có tồn tại sau khi chết", thưa Hiền giả, là chấp trước sắc. "Như Lai không có tồn tại sau khi chết" là chấp trước sắc. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là chấp trước sắc. "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là chấp trước sắc.
,2. "Như Lai có tồn tại sau khi chết" là chấp trước thọ. "Như Lai không có tồn tại sau khi chết" là chấp trước thọ. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là chấp trước thọ. "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là chấp trước thọ.
,3. "Như Lai có tồn tại sau khi chết" là chấp trước tưởng. "Như Lai không tồn tại sau khi chết" là chấp trước tưởng. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là chấp trước]tưởng. "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là chấp trước tưởng.
,4. "Như Lai có tồn tại sau khi chết" là chấp trước các hành. "Như Lai không tồn tại sau khi chết" là chấp trước các hành. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là chấp trước các hành. "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là chấp trước các hành.
,5. "Như Lai có tồn tại sau khi chết" là chấp trước thức. "Như Lai không tồn tại sau khi chết" là chấp trước thức. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là chấp trước thức. "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là chấp trước thức.
,- Này Hiền giả, do nhân này, do duyên này, Thế Tôn không trả lời.

,[IV]
Sàriputta-Kotthika (2) (hay Tập khởi)
,Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàranasi (Ba-la-nại), tại Isipatana, chỗ vườn Nai...
,- Thưa Hiền giả, do nhân gì Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy?
[1]
,1- Thưa Hiền giả, do không như thật biết, như thật thấy sắc; do không như thật biết, như thật thấy sắc tập khởi; do không như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt; do không như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến sắc đoạn diệt nên mới có quan điểm rằng:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết..".
,2-4:
,... thọ... tưởng... các hành...
,5- Do không như thật biết, như thật thấy thức; do không như thật biết, như thật thấy thức tập khởi; do không như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt; do không như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến thức đoạn diệt nên mới có quan điểm rằng:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[2]
,1- Do như thật biết, như thật thấy sắc; do như thật biết, như thật thấy sắc tập khởi; do như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt; do như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến sắc đoạn diệt nên không có quan điểm rằng:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2-4:
,... thọ... tưởng... các hành...
,5- Do như thật biết, như thật thấy thức; do như thật biết, như thật thấy thức tập khởi; do như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt; do như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến thức đoạn diệt nên không có quan điểm rằng:
,- "Như Lai có tồn tại sau chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,- Thưa Hiền giả, đây là nhân, đây là duyên, đây là lý do mà Thế Tôn không trả lời vấn đề ấy.

,[V]
Sàriputta-Kotthika (3) (hay Ái)
,Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàranasi (Ba-la-nại), tại Isipatana, chỗ vườn Nai...
,- Thưa Hiền giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy?
[1]
,1- Thưa Hiền giả, đối với ai chưa đoạn trừ tham đối với sắc, chưa đoạn trừ dục, chưa đoạn trừ ái, chưa đoạn trừ khát, chưa đoạn trừ nhiệt tâm, chưa đoạn trừ khát ái, thời người ấy có quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2-4:
,... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành...
,5- Thưa Hiền giả, đối với ai chưa đoạn trừ tham đối với thức, chưa đoạn trừ dục, chưa đoạn trừ ái chưa đoạn trừ khát, chưa đoạn trừ nhiệt tâm, chưa đoạn trừ khát ái, thời người ấy có quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[2]
,Này Hiền giả, đối với ai đã đoạn trừ tham đối với sắc, đã đoạn trừ dục, đã đoạn trừ ái, đã đoạn trừ khát, đã đoạn trừ nhiệt tâm, đã đoạn trừ khát ái, người ấy sẽ không có quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2-4:
,... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành...
,5. Này Hiền giả, đối với ai đã đoạn trừ lòng tham đối với thức, đã đoạn trừ dục, đã đoạn trừ ái, đã đoạn trừ khát, đã đoạn trừ nhiệt tâm, đã đoạn trừ khát ái, thời người ấy không có quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,Này Hiền giả, đây là nhân, đây là duyên, đây là lý do mà Thế Tôn không trả lời vấn đề ấy.

,[VI]
Sàriputta-Kotthika (4) (hay Vườn)
,(§1)
,Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàranasì, tại Isipatana, ở vườn Nai.
,Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kotthika; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kotthika những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
,Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:
,- Thưa Tôn giả Kotthika, Như Lai có tồn tại sau khi chết?... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?...
,Ðược hỏi vậy, Hiền giả trả lời: "Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".
,- Do nhân gì, thưa Hiền giả, do duyên gì, Thế Tôn không trả lời vấn đề ấy?
[1]
,1- Thưa Hiền giả, với ai còn ái lạc sắc, ưa thích sắc, hoan hỷ sắc, không như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt, thời người ấy có quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2. Thưa Hiền giả, với ai còn ái lạc thọ, ưa thích thọ, hoan hỷ thọ, không như thật biết, như thật thấy thọ đoạn diệt, thời người ấy có các quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"
,3-4:
,... tưởng... các hành...
,5. Thưa Hiền giả, với ai còn ái lạc thức, ưa thích thức, hoan hỷ thức, không như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt, thời người ấy có các quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[2]
,Này Hiền giả, đối với ai không ái lạc sắc, không ưa thích sắc, không hoan hỷ sắc, như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết. .. Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2-4:
,Thưa Hiền giả, với ai không còn ái lạc thọ... tưởng... các hành...
,5... không ái lạc thức, không ưa thích thức, không hoan hỷ thức, như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,- Này Hiền giả, đây là nhân, đây là duyên, đây là lý do mà Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.

,(§2)
[1]
,- Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do đấy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?
,- Thưa có, này Hiền giả.
,1- Ai còn ái lạc hữu, ưa thích hữu, hoan hỷ hữu, không như thật biết, không như thật thấy hữu đoạn diệt, thời người ấy có các quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2. Ai không còn ái lạc hữu, thưa Hiền giả, không ưa thích hữu, không hoan hỷ hữu, như thật biết, như thật thấy hữu đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,Thưa Hiền giả, đây là lý do vì sao Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.
[2]
,- Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do vậy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?
,- Thưa có, này Hiền giả.
,1- Ai còn ái lạc thủ, ưa thích thủ, hoan hỷ thủ, không như thật biết, như thật thấy thủ đoạn diệt, thời người ấy có những quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2- Ai không còn ái lạc thủ, thưa Hiền giả, không ưa thích thủ, không hoan hỷ thủ, như thật biết, như thật thấy thủ đoạn diệt, thời người ấy không có những quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,Thưa Hiền giả, đây là lý do vì sao Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.
[3]
,- Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do vậy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?
,- Thưa có, này Hiền giả.
,1- Với ai còn ái lạc ái, thưa Hiền giả, ưa thích ái, hoan hỷ ái, không như thật biết, không như thật thấy ái đoạn diệt, thời người ấy có những quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2. Với ai, thưa Hiền giả, không còn ái lạc ái, không ưa thích ái, không hoan hỷ ái, và như thật biết, như thật thấy ái đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,- Thưa Hiền giả, đây là lý do vì sao Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.
[4]
,- Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do vậy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?
,- Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, sao Hiền giả còn muốn hỏi thêm chi nữa. Ðối với Tỷ-kheo đã được giải thoát nhờ đoạn tận ái, thời không còn gì để nêu rõ là được tăng trưởng.

,[VII]
Moggalàna (hay Xứ)
,(§1)
,Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, nói với Tôn giả Mahà Moggalàna những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên; du sĩ Vacchagotta thưa với Tôn giả Mahà Moggalàna:
[1]
,1- Thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là thường còn?
,- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời:
,- "Thế giới là thường còn".
,2- Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô thường?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Thế giới là vô thường".
,3- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải thế giới là hữu biên?
,- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời:
,- "Thế giới là hữu biên".
,4- Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô biên?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Thế giới là vô biên".
,5- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải sinh mạng và thân thể là một?
,- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời:
,- "Sinh mạng và thân thể là một".
,6- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy sinh mạng và thân thể là khác?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Sinh mạng và thân thể là khác".
,7- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại sau khi chết".
,8- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không có tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không có tồn tại sau khi chết".
,9- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".
,10- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[2]
,1- Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì các vị du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như thế này, thời trả lời như thế này:
,- "Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên. Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,2- Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn Gotama, khi được hỏi như thế này, thời không trả lời như thế này:
,- "Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên. Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
[3]
,1- Này Vaccha, vì rằng các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là:
,- "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi";
,2-5:
,... quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân...
,6... quán ý là:
,- "Cái này là của tôi, cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi".
,Do vậy, các du sĩ ngoại đạo, nên khi được hỏi như vậy, trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[4]
,1- Và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán con mắt là:
,- "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi".
,2-5:
,... quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân...
,6... quán ý là:
,- "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi".
,- Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

,(§2)
,Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Vacchagotta bạch Thế Tôn:
[1]
,- Thưa Tôn giả Gotama, thế giới thường còn?
,- Này Vaccha, Ta không trả lời:
,- "Thế giới là thường còn".
,... (Như trên)...
,- Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Ta không có trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[2]
,1- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì các du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
,2- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
[3]
,- Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là:
,- "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi",
,2-5:
,... quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân...
,6... quán ý là:
,- "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi".
,Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, nên trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[4]
,1- Còn Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán con mắt là:
,- "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi",
,2-5:
,...quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân...
,6... quán ý là:
,- "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi".
,Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[5]
,1- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
,2- Thưa Tôn giả Gotama, nay con đi đến Sa-môn Mahà Moggalàna và nói về ý nghĩa này. Sa-môn Moggalàna, với những câu như thế này, với những lời như thế này đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Gotama. Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

,[VIII]
Vaccha (hay Trói buộc)
,Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
[1]
,Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:
,- Thưa Tôn giả Gotama, thế giới có phải là thường còn?
,- Này Vaccha, Ta không có trả lời:
,- "Thế giới là thường còn..."
,... (như trên)...
,- Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Ta không có trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi.chết".
,1- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
,2. Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
[2]
,1- Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc,]hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ như là tự ngã... quán tưởng... quán các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
,Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2- Như Lai, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, hay sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ không phải tự ngã... quán tưởng... quán các hành... quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có thức, hay thức không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong thức.
,Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[3]
,Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggalàna những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Mahà Moggalàna:
,- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải thế giới là thường còn?
,- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời:
,- "Thế giới là thường còn".
,... (như trên)...
,- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,1- Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
,2- Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Moggalàna, Sa-môn Gotama khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
[4]
,1- Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
,Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,2. Còn Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, quán sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
,Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy:
,- "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
[5]
,1- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Moggalàna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
,2. Thưa Tôn giả Moggalàna, nay tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến tôi hỏi về ý nghĩa này. Sa-môn Gotama với những câu văn, với những lời văn đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Moggalàna.
,Thật vi diệu thay, Tôn giả Moggalàna! Thật hy hữu.thay, Tôn giả Moggalàna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

,[IX]
Luận Nghị Ðường (Kutùhalasàlà)
,Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
[1]
,- Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên:
,1- "Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị.sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng".
,Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau:
,2- "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
,Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau:
,3- "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
[2]
,1- Makkhali Gosàla... Nigantha Nàtaputta... Sanjaya Belatthiputta... Pakuddha Kaccàyana... vị Ajita Kesakambala này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau:
,2- "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
,Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau:
,3- "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
[3]
,1. Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Sa-môn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau:
,2- "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
,Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời:
,- "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này".
,Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau:
,3- "Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau".
[4]
,1- Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau:
,- "Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?"
,- Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên.
,2- Ta tuyên bố sự sanh khởi, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.
,3. Ví như, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu (saupàdàna), không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ.
,4- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
,- Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
,5- Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
,- Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).

,[X]
Ananda (hay Sự có mặt của Ngã)
,Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
[1]
,Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
,1- Thưa Tôn giả Gotama, có tự ngã không?
,Khi được hỏi vậy, Thế Tôn im lặng.
,- Thưa Tôn giả Gotama, có tự ngã không?
,Lần thứ hai, Tôn giả Gotama giữ im lặng.
,Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
,Rồi Tôn giả Ananda, sau khi du sĩ Vacchagotta ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:
,2- Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi của du sĩ Vacchagotta?
[2]
,1- Này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?", và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã", như vậy, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.
,2. Và này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?"Và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã", như vậy, là thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.
,3. Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?" và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã", như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng:
,- "Tất cả các pháp là vô ngã"?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,4- Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?" và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã", như vậy, lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa:
,- "Trước đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa".

,[XI]
Sabhiya
,Một thời, Tôn giả Sabhiya Kaccàna trú ở Nàtika, tại ngôi nhà bằng gạch.
,Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Sabhiya Kaccàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sabhiya Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
,Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Sabhiya Kaccàna như sau:
,1- Thưa Tôn giả Kaccàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời:
,-"Như Lai có tồn tại sau khi chết".
,2- Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại sau khi chết".
,3. Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".
,4- Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
,- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời:
,- "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,5- Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’"? Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết""? Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết’"? Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".
,Thưa Tôn giả Kaccàna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn Gotama lại không trả lời về vấn đề ấy?
,6- Này Vaccha, do nhân gì, do duyên gì, mà trình bày người ấy là có sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có tưởng, không có tưởng hay không không có tưởng, thì khi nhân ấy, duyên ấy được đoạn diệt không có dư tàn, một cách toàn diện, một cách hoàn toàn, khi ấy lấy cái gì để trình bày người ấy là có sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có tưởng, không có tưởng hay không không có tưởng?
,7- Này Tôn giả Kaccàna, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?
,- Thưa Hiền giả, không lâu, chỉ có ba năm.
,8- Hãy xem, với thời gian ngắn như vậy, lại được thấy nhiều như vậy. Còn nói gì đến các vấn đề vi diệu!

[Hết Tập 4]

...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG VÔ VI

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 4

[Thiên Sáu Xứ]
Chương 9
TƯƠNG ƯNG VÔ VI

———————————————————————————————
PHẨM I
(Thứ Nhất)

,(1)
Thân Niệm
,- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về pháp vô vi và con đường đưa đến vô vi (asankhata). Hãy lắng nghe.
,1- Và thế nào là vô vi?
,Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.
,2. Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Thân niệm (kàyagatà sati), này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.
,Như vậy, Ta thuyết về vô vi, Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.
,3. Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ; tất cả, Ta đã làm đối với các Ông.
,Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

,(2)
Chỉ-Quán (Samatha)
,- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về vô vi và về con đường đưa đến vô vi. Hãy lắng nghe.
,1- Và thế nào là vô vi?
,Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.
,2. Và thế nào là con đường đưa đến vô vi:
,- chỉ và quán, đây là con đường đưa đến vô vi.
,... (như trên)...

,(3)
Tầm-Tứ
,...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Có định có tầm, có tứ; có định không tầm, có tứ; có định không tầm, không tứ.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.

,(4)
Không
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Không định, Vô tướng định, Vô nguyện định.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

,(5)
Niệm Xứ
, ...
,-Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Bốn niệm xứ.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

,(6)
Chánh Cần
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Bốn chánh cần.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

,(7)
Như Ý Túc
, ...
,- Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Bốn như ý túc.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

,(8)
Căn
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Năm căn.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

,(9)
Lực
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Năm lực.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

,(10)
Giác Chi
,...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Bảy giác chi.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

,(11)
Con Ðường
,1...
,2- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Con đường Thánh đạo Tám ngành.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.
,Như vậy, Ta thuyết về vô vi; Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.
,3- Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ; tất cả, Ta đã làm đối với các Ông.
,Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

PHẨM II
(Thứ Hai)

[1]-Vô Vi
,(1)
Chỉ
,- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về vô vi, và về con đường đưa đến vô vi. Hãy lắng nghe.
,1- Này các Tỷ-kheo, thế nào là vô vi?
,- sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si; đây gọi là vô vi.
,2. Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Chỉ, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.
,Như vậy, Ta thuyết về vô vi, Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.
,3. Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ; tất cả, Ta đã làm cho các Ông.
,Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

,(2)
Quán
,- Ta sẽ thuyết cho các Ông về vô vi và con đường đưa đến vô vi. Hãy lắng nghe.
,1. Và thế nào là vô vi?
,Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si; đây gọi là vô vi.
,2. Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Quán, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.
,... (như trên).

,(3)
Sáu Ðịnh (1)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Ðịnh có tầm có tứ, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.
,... (như trên).

,(4)
Sáu Ðịnh (2)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Ðịnh không tầm, chỉ có tứ; này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(5)
Sáu Ðịnh (3)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Ðịnh không tầm không tứ; này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(6)
Sáu Ðịnh (4)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Không định, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(7)
Sáu Ðịnh (5)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Ðịnh Vô tướng, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(8)
Sáu Ðịnh (6)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,- Ðịnh Vô nguyện, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(9)
Bốn Niệm Xứ (1)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo sống tùy quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi...

,(10-12)
Bốn Niệm Xứ (2-4)
, ...
,... Ở đây, Tỷ-kheo sống tùy quán thọ trên thọ... tùy quán tâm trên tâm... tùy quán pháp trên pháp.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(13)
Bốn Chánh Cần (1)
,...
,- Và thế này là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo phát sanh lòng ước muốn rằng các ác bất thiện pháp chưa sanh không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, kiên tâm, trì chí.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(14-16)
Bốn Chánh Cần (2-4)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo phát sanh lòng ước muốn rằng các ác bất thiện pháp đã sanh được đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, kiên tâm, trì chí... phát sanh lòng ước muốn rằng các thiện pháp chưa sanh được sanh khởi... phát sanh lòng ước muốn rằng các thiện pháp đã sanh được an trú, không tán thất, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, tinh cần, tinh tấn, kiên tâm, trì chí.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(17)
Bốn Như Ý Túc (1)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục Thiền định, tinh cần hành.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi...

,(18-20)
Bốn Như Ý Túc (2-4)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với tâm Thiền định, tinh cần hành... câu hữu với tinh tấn Thiền định... câu hữu với tư duy Thiền định, tinh cần hành.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(21)
Năm Căn (1)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo tu tập tín căn, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ diệt tận, hướng đến từ bỏ.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(22-25)
Năm Căn (2-5)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo tu tập tấn căn... tu tập niệm căn... tu tập định căn... tu tập tuệ căn, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ diệt tận, hướng đến từ bỏ.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(26-30)
Năm Lực (1-5)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo tu tập tín lực... tấn lực... niệm lực... định lực... tuệ lực... y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ diệt tận, hướng đến từ bỏ.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(31-37)
Bảy Giác Chi (1-7)
,...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi... trạch pháp giác chi... tinh tấn giác chi... hỷ giác chi... khinh an giác chi... định giác chi... xả giác chi, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ diệt tận, hướng đến từ bỏ.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

,(38-45)
Tám Chánh Ðạo (1-8)
, ...
,- Và thế nào là con đường đưa đến vô vi?
,Ở đây, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến... chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ diệt tận, hướng đến từ bỏ.
,Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi...

PHẦN TƯƠNG TỰ

[2]-Ðích Cuối Cùng (Antam)
,(1-45)
,- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về mục đích cuối cùng và con đường đưa đến mục đích cuối cùng. Hãy lắng nghe.
,Và thế nào là mục đích cuối cùng?
,... [giống như đoạn về Vô Vi, từ (1) đến (45)]

[3]-Vô Lậu
,(1-45)
,- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về vô lậu và con đường đưa đến vô lậu. Hãy lắng nghe.
,Và thế nào là vô lậu?
,.. [giống như đoạn về Vô Vi, từ (1) đến (45)]

[4]-Sự Thật (Saccam)...

[5]-Bờ Bên Kia (Pàram)...

[6]-Tế Nhị (Nipunam)...

[7]-Khó Thấy Ðược (Sududdasam)...

[8]-Không Già (Ajajjaram)...

[9]-Thường Hằng (Dhuvam)...

[10]-Không Suy Yếu (Apalokitam)...

[11]-Không Thấy (Anidassanam)...

[12]-Không Lý Luận (Nippapam)...

[13]-Tịch Tịnh (Santam)...

[14]-Bất Tử (Amatam)...

[15]-Thù Thắng (Paniitam)...

[16]-An Lạc (Sivam)...

[17]-An Ổn (Khemam)

[18]-Ái Ðoạn Tận...

[19]-Bất Khả Tư Nghì (Acchariyam)...

[20]-Hy Hữu (Abhutam)...

[21]-Không Có Tai Họa (Anìtika)...

[22]-Không Bị Tai Họa (Anitakdhamma)...

[23]-Niết Bàn....

[24]-Không Tồn Tại (Avyàpajjho)...

[25]-Ly Tham (Viràgo)...

[26]-Thanh Tịnh...

[27]-Giải Thoát (Mutti)...

[28]-Không Chứa Giữ (Anàlayo)...

[29]-Ngọn Ðèn (Dipa)...

[30]-Hang ẩn (Lena)...

[31]-Pháo Ðài (Tànam) ...

[32]-Quy Y (Saranam)...

[33]-Ðến Bờ Bên Kia (Paràyanam)
,(1)
,- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về sự đến bờ bên kia và con đường đưa đến bờ bên kia. Hãy lắng nghe.
,1. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đến bờ bên kia?
,- sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si; này các Tỷ-kheo, đây gọi là đến bờ bên kia.
,2. Và thế nào là con đường đưa đến bờ bên kia?
,- Thân niệm, này các Tỷ-kheo, là con đường đưa đến bờ bên kia.
,Như vậy, Ta thuyết về sự đến bờ bên kia, Ta thuyết về con đường đưa đến bờ bên kia.
,3- Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ; tất cả, Ta đã làm đối với các Ông.
,- Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

,(2-45)
,...(Như trên)...
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG THÔN TRƯỞNG (tt)


...
TƯƠNG ƯNG THÔN TRƯỞNG
(tiếp theo)

,[XII]
Ràsiya
,Một thời thôn trưởng Ràsiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
,(§1)
,1- Con có nghe rằng Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi người sống khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ.
,Những người nói như vậy, bạch Thế Tôn, không biết có nói đúng với lời Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực, trả lời thuận pháp, đúng pháp, và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?
,2- Này Thôn trưởng, những ai đã nói như sau:
,- "Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi lối sống khắc khổ";
họ nói không đúng lời Ta nói, họ xuyên tạc Ta với điều không thật, với điều không chơn chánh.

,(§2)
,- Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành:
,1- Một là say đắm dục lạc đối với các dục vọng hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích.
,2- Hai là hành hạ tự thân, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích.
,Từ bỏ hai cực đoan này là con đường trung đạo, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
,- Thế nào là con đường trung đạo ấy, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn?
,3- Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là:
,- chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
,Ðây là con đường trung đạo, được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

,(§3)
,Này Thôn trưởng, có ba hạng người hưởng thọ vật dục có mặt ở trong đời.
,Thế nào là ba?
[1]
,1- Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,2. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,3. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
[2]
,1- Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,2. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,3. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, làm các công đức.
[3]
,1- Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp, không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,2. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,3. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, và làm các công đức.
,Nhưng, người ấy hưởng thọ với tâm tham trước, đắm say, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không với trí tuệ xuất ly.
,4- Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
,Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí huệ xuất ly.

,(§4)
[1]
,1- Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về ba phương diện bị chỉ trích.
,- Về ba phương diện nào bị chỉ trích?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.
,(2)-Người ấy không vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
,(3)-Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
,Này Thôn trưởng, người hưởng thọ vật dục này về ba phương diện bị chỉ trích.

,2. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
,- Về hai phương diện gì bị chỉ trích?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.
,(2)-Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
,- Về một phương diện gì người ấy được tán thán?
,(i)-Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện này, người ấy được tán thán.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.

,3. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
,- Về một phương diện gì người ấy bị chỉ trích?
,(i)-Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
,- Về hai phương diện gì người ấy được tán thán?
,(1)-Người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán.
,(2)-Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
[2]
,1. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích.
,- Một phương diện gì được tán thán?
,(i)-Người ấy tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán.
,- Về ba phương diện nào người ấy bị chỉ trích?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản một cách phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.
,(2)-Người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
,(3)-Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích.

,2. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
,- Về hai phương diện nào người ấy được tán thán?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán.
,(2)-Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
,- Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.
,(2)-Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.

,3. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
,- Về ba phương diện nào được tán thán?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán.
,(2)-Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
,(3)-Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán.
,- Thế nào là một phương diện người ấy bị chỉ trích?
,(i)-Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về một phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
[3]
,1. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ và không làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
,- Về một phương diện nào được tán thán?
,(i)-Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán.
,- Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích?
,(1)-Người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.
,(2)-Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.

,2. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
,Người hưởng thọ vật dục này, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
,- Về hai phương diện nào người ấy được tán thán?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán.
,(2)-Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
,- Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích?
,(i)-Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.

,3. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
,Người ấy hưởng thọ các tài sản một cách tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly.
,Người hưởng thọ vật dục này, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
,- Về ba phương diện nào người ấy được tán thán?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán.
,(2)-Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
,(3)-Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán.
,- Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích?
,(i)-Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy với tâm tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.

,4. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
,Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy, không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly.
,Người hưởng thọ vật dục này, về bốn phương diện được tán thán.
,- Về bốn phương diện nào được tán thán?
,(1)-Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán.
,(2)-Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
,(3)-Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán.
,(4)-Người ấy hưởng thọ tài sản ấy không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly, về phương diện thứ tư này, người ấy được tán thán.
,Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán.

,(§5)
,Này Thôn trưởng, có ba hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, có mặt hiện sống ở đời.
[1]
,1. Này Thôn trưởng, có hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, do lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy nghĩ rằng:
,- "Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!".
,Vị ấy tự mình hành xác, hành khổ, nhưng không chứng được thiện pháp nào; không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh nào.
,2. Ở đây, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng:
,- "Mong rằng ta chứng được thiện pháp ; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!".
,Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
,3. Ở đây, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng:
,- "Mong rằng ta chứng được thiện pháp ; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!"
,Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
[2]
,1- Ở đây, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, không chứng được thiện pháp; không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
,Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, về ba phương diện bị chỉ trích.
,- Thế nào là về ba phương diện bị chỉ trích?
,(1)-Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.
,(2)-Người ấy không chứng đắc thiện pháp, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
,(3)-Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
,Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba phương diện này bị chỉ trích.

,2. Ở đây, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
,Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
,- Thế nào là về hai phương diện người ấy bị chỉ trích?
,(1)-Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích.
,(2)-Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
,- Thế nào là về một phương diện người ấy được tán thán?
,(i)-Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện này, người ấy được tán thán.
,Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.

,3. Ở đây, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, và chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
,Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
,- Về một phương diện nào bị chỉ trích?
,(i)-Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
,- Về hai phương diện nào người ấy được tán thán?
,(1)-Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán.
,(2)-Người ấy chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
,Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.

,(§6)
,Này Thôn trưởng, có ba pháp thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
,Thế nào là ba?
,1- Phàm người tham dục (ràga), do nhân tham dục, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi tham dục được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai.
,Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
,2- Phàm người sân hận, do nhân sân hận, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi sân hận được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai.
,Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
,3- Phàm người si mê, do nhân si mê, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi si mê được đoạn tận, vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai.
,Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
,Ba pháp này, này Thôn trưởng, thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

,(§7)
,Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
,- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

,[XIII]
Pàtali (Khả ý)
,Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị trấn của dân chúng Koliya tên là Uttara.
,(§1)
,Rồi thôn trưởng Pàtaliya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; thôn trưởng Pàtaliya bạch Thế Tôn:
,1- Con được nghe rằng, bạch Thế Tôn, Sa-môn Gotama biết huyễn thuật.
,Bạch Thế Tôn, những ai nói rằng Sa-môn Gotama biết huyễn thuật; những người ấy, bạch Thế Tôn, có nói đúng với lời Thế Tôn hay không? Họ không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, họ trả lời đúng pháp, tùy pháp? Và những ai nói lời tương ứng đúng pháp không có lý do gì để chỉ trích.
,Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn chống báng Thế Tôn (abbhakkhàti).
,2- Những ai nói rằng, Sa-môn Gotama biết huyễn thuật, những người ấy nói đúng lời nói của Ta. Họ không xuyên tạc Ta với điều không thật. Họ nói lời đúng pháp, tùy pháp. Và những ai nói lời tương ứng đúng pháp không có lý do để chỉ trích.
,3- Như vậy là đúng sự thật, bạch Thế Tôn tuy rằng con không tin các vị Sa-môn, Bà-La-Môn ấy, nói rằng Sa-môn Gotama biết huyễn thuật.
,Như vậy, bạch Thế Tôn, cuối cùng Sa-môn Gotama là người sống theo huyễn thuật.
,4- Ai nói rằng:
,- "Như Lai biết huyễn thuật",
người ấy có nói rằng Như Lai là người sống theo huyễn thuật, nói rằng như vậy là Thế Tôn, như vậy là Thiện Thệ?
,Vậy này Thôn trưởng, về vấn đề này Ta sẽ hỏi Ông. Nếu có thể kham nhẫn, Ông có thể trả lời.

,(§2)
[1]
,- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có biết, các người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng xuống?
,- Con có biết, bạch Thế Tôn, các người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng xuống.
,- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Dùng vào mục đích gì mà những người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng xuống?
,- Những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala được dùng để chế ngự các người ăn trộm và để mang đi các tin tức cho dân chúng Kosala. Ðược dùng vào mục đích ấy, bạch Thế Tôn, là những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala.
,- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng?
,1- Ông có biết những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những người trì giới hay là những người ác giới?
,2- Con được biết, bạch Thế Tôn, những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những người ác giới, theo ác pháp. Nếu có những người theo ác giới, theo ác pháp ở đời, chính là những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala, không có ai khác.
,- Này Thôn trưởng, nếu có ai nói rằng:
,3- "Thôn trưởng Pàlaliya biết được các người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là người ác giới, theo ác pháp, thời thôn trưởng Pàtaliya cũng là người theo ác giới, theo ác pháp",
người nói như vậy có nói một cách chân chánh không?
,4- Thưa không, bạch Thế Tôn. Những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của các dân chúng Kosala là khác. Còn con là khác. Tự tánh của những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là khác. Tự tánh của con là khác.
,- Này Thôn trưởng, Ông sẽ được tiếng như sau:
,- "Thôn trưởng Pataliya biết rằng, các người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những người ác giới, theo ác pháp. Nhưng thôn trưởng Pataliya không phải là người có ác giới, theo ác pháp".
,5. Như vậy, tại sao Như Lai lại không được tiếng rằng Như Lai là người biết huyễn thuật, nhưng Như Lai không phải là người sống theo huyễn thuật?
,6. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết huyễn thuật và quả dị thục của huyễn thuật. Và thực hành như thế nào mà một người làm huyễn thuật, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ta rõ biết như vậy.
[2]
,1- Này Thôn trưởng, Ta rõ biết sát sanh và quả dị thục của sát sanh. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người sát sanh, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,2. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lấy của không cho và quả dị thục của lấy của không cho. Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người lấy của không cho, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,3. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết sự sống tà hạnh trong các dục và quả dị thục của sự sống theo tà hạnh trong các dục. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người sống tà hạnh trong các dục, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,4. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói láo và quả dị thục của nói láo. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói láo, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,5. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói hai lưỡi và quả dị thục của nói hai lưỡi. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói hai lưỡi sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,6. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói lời độc ác và quả dị thục của nói lời độc ác. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói lời độc ác, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,7. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói lời phù phiếm và quả dị thục của nói lời phù phiếm. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói lời phù phiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,8. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lòng tham dục và quả dị thục của lòng tham dục. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người có lòng tham dục, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,9. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lòng sân hận và quả dị thục của lòng sân hận. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người có lòng sân hận, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, đọa ngục.
,10. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết tà kiến và quả dị thục của tà kiến. Và Ta cũng rõ biết một người có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

,(§3)
,Này Thôn trưởng, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói như sau, thấy như sau:
,- "Ai sát hại sanh mạng; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu. Ai lấy của không cho; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu. Ai sống tà hạnh trong các dục; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu. Ai nói láo; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu".
[1]
,1. Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông tai, khéo tắm, khéo thoa dầu sáp, tóc râu chải chuốt, được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người này, họ hỏi:
,- "Này Bạn, người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai, được khéo tắm, tóc râu chải chuốt, được nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,- "Này Bạn, người này đã đập tan kẻ thù nghịch của vua và đoạt mạng sống của kẻ đó. Nhà vua hoan hỷ đối với người ấy, nên đã thưởng cho người ấy. Do vậy, người này được đeo vòng hoa, được đeo bông tai, được khéo tắm, râu tóc chải chuốt, được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua".
,2. Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt ra đằng sau bởi một sợi dây thật chắc, đầu cạo trọc, với tiếng trống chát tai, được dẫn đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, rồi được dắt ra khỏi cửa thành phía Nam, và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam.
,Về người này, họ hỏi:
,- Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đằng sau bởi một sợi dây thật chắc, đầu cạo trọc, với tiếng trống chát tai, được dẫn đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, rồi được dắt ra khỏi cửa thành phía Nam, và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,- Này Bạn, người này là kẻ thù của vua. Người này đã đoạt mạng sống một người đàn bà hay một người đàn ông. Do vậy, người của vua bắt người này và đối xử như vậy với người này".
,Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng?
,- Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
,- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
,3- Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau:
,- "Ai sát hại sanh mạng; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu".
Họ nói đúng sự thật hay nói láo?
,- Bạch Thế Tôn, họ nói láo.
,4- Và những người nói lời hư ngụy, nói láo, họ là người trì giới hay ác giới.
,- Là người ác giới, bạch Thế Tôn.
,5- Những người ác giới, theo ác pháp là tà hạnh hay chánh hạnh?
,- Là tà hạnh, bạch Thế Tôn.
,6- Những người tà hạnh là những người có tà kiến hay có chánh kiến?
,- Là những người có tà kiến, bạch Thế Tôn.
,7- Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
[2]
,1- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người này, họ hỏi:
,- Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,- Này Bạn, người này đã đập tan kẻ thù nghịch của vua và đem về châu báu. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng người ấy. Do vậy, người này được đeo vòng hoa, được đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua".
,2. Nhưng ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt ra đằng sau... và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này, họ hỏi:
,- Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đằng sau... tại cửa thành phía Nam?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,- Này Bạn, người này đã từ làng hay từ ngôi rừng lấy những vật không cho, được gọi là ăn trộm. Do vậy, những người của nhà vua bắt người này và đối xử như vậy với người này".
,Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng?
,Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
,- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
,3- Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn, hay Bà-la-môn nào nói như vậy, thấy như sau:
,- "Ai lấy của không cho; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu".
Họ nói đúng sự thật hay họ nói láo?
,... (Như trên)...
,Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
[3]
,1- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người này, họ nói:
,- "Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,-"Này Bạn, người này có tà hạnh với những người vợ của kẻ thù nghịch của vua. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng người ấy. Do vậy, người ấy được đeo vòng hoa, được đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua".
,2- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt... và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này, họ nói:
,- "Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đằng sau... tại cửa thành phía Nam?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,- "Này Bạn, người ấy đã phạm tà hạnh với các phụ nữ và các con gái các gia đình. Do vậy, các người của nhà vua bắt người ấy và đối xử như vậy với người ấy".
,Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng?
,Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
,- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
,3- Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn, Bà-la-môn nào nói như sau, thấy như sau:
,- "Ai có tà hạnh trong các dục; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu"
,Họ nói đúng sự thật hay họ nói láo?
,... (Như trên)...
,Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
[4]
,1- Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông[tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người ấy, họ nỏi:
,-"Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,- "Này Bạn, người này làm cho vua cười với lời nói láo. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng người ấy. Do vậy, người ấy được đeo vòng hoa, được đeo bông tai... được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua".
,2- Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt... và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này, họ hỏi:
,- "Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đàng sau... tại cửa thành phía Nam?"
,Các Ông trả lời về người ấy như sau:
,-"Này Bạn, người ấy do nói láo, đã phá hại tài sản của người gia chủ hay con của người gia chủ. Do vậy, các người của nhà vua bắt người ấy và đối xử như vậy với người ấy".
,Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào?
,Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
,- Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
,3. Ở đây, này Thôn trưởng, những Sa-môn, Bà-la-môn nào nói như sau, thấy như sau:
,- "Ai nói láo; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu".
Họ nói đúng sự thật hay nói láo.
,... (Như trên)...
,- Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.

,(§4)
,- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn!
,Con có một ngôi nhà nghỉ mát, tại đấy có những giường, có những chỗ ngồi, có những đèn dầu. Có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến trú ngụ tại đấy, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực, con chia sẻ với các vị ấy.
,Thuở trước, bạch Thế Tôn, có bốn vị Ðạo sư có quan điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau đến trú ngụ tại ngôi nhà nghĩ mát ấy.
[1]
,1. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau:
,- "Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh ; ở đời, không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này đời khác, và truyền dạy lại".
,2. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau:
,- "Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh ; ở đời, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này đời khác, và truyền dạy lại".
,3. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau:
,- "Tự làm, hay khiến người làm, chém giết, hay tự mình chém giết, đốt nấu, hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây phiền muộn, gây ảo não, hay khiến người gây ảo não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo. Do duyên như vậy, không có tội ác, không có đi đến tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén, giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt; do duyên ấy, cũng không có tội ác, không đi đến tội ác.
,Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu; do duyên ấy cũng không có tội ác, không đi đến tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ; do duyên ấy, không có công đức, không đi đến công đức".
,4. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau:
,- "Tự mình làm hay khiến người làm, chém giết, hay tự mình chém giết, đốt nấu, hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây phiền muộn, gây ảo não, hay khiến người gây ảo não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo. Hành động như vậy có tội ác, có đi đến tội ác.
,Nếu lấy một bánh xe sắc bén, giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt; vì vậy có tội ác, có đi đến tội ác.
,Nếu có người đi đến bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, có tội ác; do duyên như vậy, có đi đến tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ; do duyên như vậy, có công đức, có đi đến công đức".
[2]
,1- Về vấn đề này, bạch Thế Tôn, con có phân vân, con có nghi ngờ. Giữa những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này ; ai là người nói sự thật, ai là người nói láo?
,- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng, là sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi, là sự nghi ngờ của Ông. Chính do ở điểm phân vân mà nghi ngờ khởi lên.
,2- Bạch Thế Tôn, nhưng con có lòng tín thành như vậy đối với Thế Tôn. Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để sự phân vân này có thể đoạn diệt.

,(§5)
,- Này Thôn trưởng, có pháp Thiền định (Dhammasamàdhi). Ở đây, nếu Ông chứng được tâm định (cittasamàdhi), thời Ông có thể đoạn diệt sự phân vân này của Ông.
,Và này Thôn trưởng, thế nào là pháp Thiền định?
,Ở đây, vị Thánh đệ tử sau khi đoạn tận sát sanh, sống từ bỏ sát sanh. Sau khi đoạn tận lấy của không cho, vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho. Sau khi đoạn tận tà hạnh trong các dục, vị ấy sống từ bỏ tà hạnh trong các dục. Sau khi đoạn tận nói láo, vị ấy sống từ bỏ nói láo. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi, vị ấy sống từ bỏ nói hai lưỡi. Sau khi đoạn tận nói lời độc ác, vị ấy sống từ bỏ nói lời độc ác. Sau khi đoạn tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù phiếm. Sau khi đoạn tận tham dục, vị ấy sống từ bỏ lòng tham. Sau khi đoạn tận lòng sân, vị ấy sống từ bỏ lòng sân. Sau khi từ bỏ tà kiến, vị ấy sống theo chánh kiến.
[1]
,1. Vị Thánh đệ tử ấy, với lòng tham từ bỏ như vậy, với lòng sân từ bỏ như vậy, không có lòng si, tỉnh giác, chánh niệm, sống biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương từ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư; như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
,2. Vị ấy suy tư như sau:
,- "Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này, đời khác, và truyền dạy lại".
,Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì. Vì ta không có hại một ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh, ở đây cả hai phương diện, ta là kẻ gieo quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì, lời nói được hộ trì, ý được hộ trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này".
,3. Với vị ấy, hân hoan sanh khởi; do hân hoan, hỷ sanh khởi; do hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ được cảm giác; với người cảm giác lạc thọ, tâm được định tĩnh.
,Này Thôn trưởng, đây là pháp Thiền định. Ở đây, nếu Ông được tâm định như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.
[2]
,1- Vị Thánh đệ tử ấy, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy, với lòng sân được từ bỏ như vậy, không có lòng si, sống tỉnh giác, chánh niệm, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư; như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
,2. Vị ấy suy tư như sau:
,- "Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có cha, có mẹ, có các loại hóa sanh. Ở đời, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này, đời khác và truyền dạy lại".
,Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì, vì ta không hại một ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh. Ở đây, cả hai phương diện, ta là kẻ gieo quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì. Lời nói ta được hộ trì. Ý ta được hộ trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này".
,3. Với vị ấy hân hoan sanh khởi.
,... (như trên)...
,... Như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.
[3]
,1- Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy... biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ... không hận, không sân.
,2. Vị ấy suy tư như sau:
,- "Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Tự làm hay khiến người làm... (như trên)... hành động như vậy không có tội ác gì'.
,Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì..."
,... (Như trên)...
,... Như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.
[4]
,1- Vị Thánh đệ tử, với lòng tham được từ bỏ như vậy... biến mãn một phương tâm câu hữu với từ... không hận, không sân.
,2. Vị ấy suy tư như sau:
,- "Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Tự làm hay khiến người khác làm...
,... (Như trên)...
,do duyên ấy, có tội ác, có đi đến tội ác... do nhân duyên ấy, có công đức, có đi đến công đức".
,Nếu Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì..."
,... (Như trên)...
,... Như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.

,(§6)
[1], [2], [3], [4]:
,- Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng...
,... [Hoàn toàn giống như (§5) chỉ khác, trước là tâm câu hữu với từ, nay là tâm câu hữu với bi... tâm câu hữu với hỷ... tâm câu hữu với xả].

,(§7)
,Khi được nói vậy, thôn trưởng Pàtaliya bạch Thế Tôn:
,- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn, thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!...
,... Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục