[Các Liên Kết]

MỤC LỤC: KINH TẠNG
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-5. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-5. Hiển thị tất cả bài đăng

TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT (tt)


...
TƯƠNG ƯNG 4 THÁNH ĐẾ
(tiếp theo)

PHẨM V
(Vực Thẳm)

,(1)
, Suy Tư
,Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
,Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
,1- Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng:
,- "Ta sẽ suy tư về thế giới",
và người ấy đi đến hồ sen sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgadhà và suy tư về thế giới.
,Này các Tỷ-kheo, người ấy trên bờ hồ sumàgadhà thấy một đoàn quân với bốn loại binh chủng (voi, ngựa, xe, bộ binh) đi vào trong một củ sen; thấy vậy, người ấy nghĩ:
,- "Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời".
,Rồi người ấy, đi vào trong thành và nói với một quần chúng lớn:
,- «Này Quí vị, có lẽ ta phát cuồng; này Quí vị, có lẽ ta điên loạn. Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!"
,- «Như thế nào, này Bạn, Bạn phát cuồng? Như thế nào, Bạn điên loạn? Bạn đã thấy gì không thể có ở đời?"
,- «Thưa Quí vị, tôi đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: 'Tôi sẽ suy tư về thế giới'. Tôi đi đến hồ sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgudhà, suy tư về thế giới. Thưa Quí vị, tôi thấy trên bờ hồ sumàgudhà một đoàn quân với bốn loại binh chủng đi vào trong một củ sen. Thấy vậy, thưa Quí vị, tôi nghĩ: 'Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!'"
,- «Thật vậy, này Bạn, Bạn đã phát cuồng. Thật vậy, Bạn bị điên loạn, Bạn đã thấy một điều không thể có ở đời!"
,2. Này các Tỷ-kheo, điều mà người ấy đã thấy là có thật, không phải không thật.
,3. Thuở xưa, chư Thiên và loài Asura (A-tu-la) giàn trận để khai chiến. Và trong trận chiến ấy, chư Thiên thắng trận, các Asura bại trận. Các Asura bại trận, hoảng hốt đi vào thành Asura ngang qua củ sen vì quá sợ hãi chư Thiên.
,4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư về thế giới:
,- "Thế giới là thường còn", hay: "Thế giới là vô thường", hay: "Thế giới là hữu biên", hay: "Thế giới là vô biên", hay: "Mạng sống và thân thể là một", hay: "Mạng sống và thân thể là khác", hay: "Như Lai có tồn tại sau khi chết", hay: "Như Lai không tồn tại sau khi chết", hay: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết", hay: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,- Vì sao?
,5. Các điều suy tư ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
,6. Nếu có suy tư, các Ông hãy suy tư:
,- "Ðây là Khổ"... "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,- Vì sao?
,7. Các suy tư như vậy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, các suy tư ấy làm căn bản cho Phạm hạnh, các suy tư ấy đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
,8. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(2)
,Vực Thẳm
,Một thời, Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gìjjhakuuta (Linh Thứu).
,Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Patibhànakuuta để nghỉ trưa.
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
,Rồi Thế Tôn cùng số đông Tỷ-kheo đi đến Patibhànakàta.
[1]
,Một Tỷ-kheo thấy một vực thẳm ở Patibhànakuuta, thấy vậy, liền bạch Thế Tôn:
,1- Bạch Thế Tôn, thật là lớn, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, thật là đáng sợ hãi, vực thẳm này!
,- Bạch Thế Tôn, không biết có vực thẳm nào khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
,2- Này các Tỷ-kheo, có vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này.
,3- Bạch Thế Tôn, thế nào là vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
[2]
,1- Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"; họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỷ với các hành đưa đến già, họ hoan hỷ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỷ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.
,- Vì họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não; nên họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.
,- Do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não; nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.
,- Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ.
,2- Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"; họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.
,Vì họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não; họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.
,- Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não; nên họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.
,Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ.
,3. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(3)
,Nhiệt Não
,1- Này các Tỷ-kheo, có một địa ngục tên là Ðại nhiệt não, tại đấy con mắt thấy sắc gì, chỉ thấy bất khả lạc sắc, không phải khả lạc sắc, chỉ thấy bất khả hỷ sắc, không phải khả hỷ sắc, chỉ thấy bất khả ý sắc, không phải khả ý sắc. Tai có nghe tiếng gì... mũi có ngửi hương gì... lưỡi có nếm vị gì... thân có cảm xúc gì... ý có nhận thức pháp gì, chỉ nhận thức bất khả lạc pháp, không phải khả lạc pháp, chỉ nhận thức bất khả hỷ pháp, không phải khả hỷ pháp, chỉ nhận thức bất khả ý pháp, không phải khả ý pháp.
,Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, thật lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, thật khéo to lớn thay, nhiệt não ấy!
,2- Bạch Thế Tôn, không biết có nhiệt não nào khác nữa, còn lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?
,- Này Tỷ-kheo, có nhiệt não khác còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy.
,- Bạch Thế Tôn, nhiệt não khác ấy như thế nào, còn lớn hơn, và đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?
, ... [Như kinh trước, chỉ có một thay đổi:
,Trong kinh trước nói:
,- "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não".
,Còn kinh này nói:
,- "Họ bị đốt cháy trong nhiệt não sanh... già... chết... sầu, bi, khổ, ưu, não" với những thay đổi cần thiết khác].

,(4)
,Nhà Có Nóc Nhọn
[1]
,1- Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau:
,- "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau";
sự kiện này không xảy ra.
,2. Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà",
sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau:
,- "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau";
sự kiện này không xảy ra.
[2]
,1. Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau:
,- "Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà";
sự kiện này có xảy ra.
,2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau:
,- "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau";
sự kiện này có xảy ra.
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(5)
,Lỗ Khóa (1) (Chiggala-hay Sợi lông)
,Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
,Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực. Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào.
,Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ:
,1- "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào".
,Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn về sự kiện ấy.
,Thế Tôn nói:
,2- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?
,- Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.
,3. Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Khổ"... như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ diệt".
,4. Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(6)
,Hắc Ám
,1- Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.
,Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
,- Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy!
,2. Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?
,- Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.
,- Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?
, ... [Như đoạn kinh (2) và có một thay đổi:
,Trong kinh trước nói:
,- "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não».
,Còn kinh này nói:
,- "Họ rơi vào tối tăm sanh, tối tăm già, tối tăm chết, tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não"].

,(7)
,Lỗ Khóa (2)
,1- Ví như, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.
,Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?
,2. Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.
,3- Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại.
,- Vì sao?
,4. Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có kẻ yếu bị ăn thịt.
,- Vì sao?
,5- Vì không thấy được bốn Thánh đế.
,Thế nào là bốn?
,- Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(8)
,Lỗ Khóa (3)
,1- Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng.
,Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc.
,Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?
,- Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!
,3- Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời.
,4. Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.
,5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm...
,... (Xem đoạn kinh trước).

,(9)
,Núi Sineru (1) (Tu Di)
,1- Ví như, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.
,3- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn.
,- Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(10)
,Núi Sineru (2)
,1- Ví như, núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại các viên sạn, lớn bằng bảy hạt đậu.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, núi chúa Sineru ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn hay các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu còn tồn tại?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn. Và ít hơn là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được còn lại, không thể đem ước tính, không thể đem so sánh và không thể bằng một phần nhỏ, nếu so sánh các viên sạn lớn, bằng bảy hạt đậu còn lại với núi chúa Sineru đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu mòn.
,3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, được tiêu mòn này; và rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn; tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,4. Do vậy, này các Tỷ-kheo...
,... (Như đoạn kinh trước).

PHẨM VI
(Chứng Ðạt-So Sánh)

,(1)
,Ðầu Móng tay
,Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:
,1- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy ở đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy ở đầu móng tay. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy lên đầu móng tay.
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng đạt, cái này là nhiều hơn...
,3-4:... [Xem kinh (9) trước].

,(2)
,Ao Hồ
,1- Ví như, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.
,3-4:... [Như kinh (9) trước].

,(3)
,Hợp Dòng (Sambhejja) (1)
,1- Ví như, tại chỗ mà các con sông lớn này nhập vào nhau, cùng chảy với nhau, tức là sông Hằng, sông Yamuna, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii. Từ đấy, một người lấy lên hai hay ba giọt nước.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước ở chỗ hợp dòng?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước ở chỗ hợp dòng. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở chỗ hợp dòng với hai hay ba giọt nước được lấy lên.
,3-4:... [Xem kinh (9) trước].

,(4)
,Hợp Dòng (2)
,1- Ví như, tại chỗ mà các con sông lớn này nhập vào nhau, cùng chảy với nhau, tức là sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii, nước sông ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ hai hay ba giọt nước còn sót lại.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, hay là hai hay ba giọt nước còn sót lại?
,- Cái này là nhiều hơn bạch Thế Tôn, tức là nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, với hai hay ba giọt nước còn sót lại.
,3-4:... [Như kinh (9) trước].

,(5)
,Quả Ðất (1)
,1- Ví như, một người đặt trên quả đất lớn các cục đất lớn bằng bảy hạt táo (sattakolatthimattiyo).
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, các cục đất lớn bằng bảy hạt táo đã được đặt lên như vậy, hay là quả đất này?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất này, còn ít hơn là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo đã được đặt lên như vậy. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể bằng một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn này với các cục đất lớn bằng bảy hạt táo được đặt lên như vậy.
,3-4:... [Như kinh (9) trước].

,(6)
,Quả Ðất (2)
,1- Ví như, quả đất đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại những cục đất lớn bằng bảy hạt táo.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều, quả đất lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn đã đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt với các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại.
,3-4... [Như kinh (9) trước].

,(7)
,Biển (1)
,1- Ví như, một người lấy lên hai hay ba giọt nước từ biển lớn.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước trong biển lớn?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển lớn với hai hay ba giọt nước được lấy lên.
,3-4:... [Như kinh (9) trước].

,(8)
,Biển (2)
,1. Ví như, nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ hai hay ba giọt nước còn sót lại.
,Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là hai hay ba giọt nước còn sót lại?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, với hai hay ba giọt nước còn sót lại.
,3-4:... [Như kinh (9) trước].

,(9)
,Ví Dụ Với Núi (1)
,1- Ví như, có người đặt trên núi chúa Tuyết Sơn các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải được đặt lên như vậy, hay là núi chúa Tuyết Sơn?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Tuyết Sơn. Còn ít hơn là những hòn sạn lớn bằng bảy hột cải được đặt lên như vậy. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh núi chúa Tuyết Sơn với các viên sạn lớn bằng bảy hột cải.
,3-4:... [Như kinh (9) trước].

,(10)
,Ví Dụ Với Núi (2)
,1- Ví như, núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải.
,2. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, với hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại.
,3- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn.
,- Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

PHẨM VII
(Ít Hơn Lược Thuyết)

,(1)
,Người Khác
,Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:
,1. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy lên trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất Thế Tôn lấy lên trên đầu móng tay. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất được Thế Tôn lấy lên trên đầu ngón tay.
,2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là những chúng sanh được tái sanh làm người. Còn nhiều hơn là những chúng sanh bị tái sanh ra khỏi loài Người.
,Vì sao?
,3. Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,4. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(2)
,Biên Ðịa
,1... (giống như của kinh trước).
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các quốc độ trung ương. Và nhiều hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các biên địa, giữa những man di (mìlakkha-Sk: mleccha) vô ý thức.
,- Vì sao?
,3-5:... (Như đoạn kinh trên).

,(3)
,Trí Tuệ
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh thành tựu tuệ nhãn của bậc Thánh. Và nhiều hơn là các chúng sanh đi đến vô minh, si ám...

,(4)
,Rượu
,...
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu...

,(5)
,Sanh Ở Nước
,...
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được sanh trên đất liền (thalàjà). Và nhiều hơn là các chúng sanh được sanh ra trong nước...

,(6)
,Hiếu Kính Mẹ
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ...

,(7)
,Hiếu Kính Cha
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha...

,(8)
,Kính Trọng Sa-Môn
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các hàng Sa-môn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các hàng Sa-môn...

,(9)
,Kính Trọng Bà-La-Môn
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các hàng Bà-la-môn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các hàng Bà-la-môn...

,(10)
,Kính Trọng Các Bậc Lớn Tuổi
,1...
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc.
,Vì sao?
,3. Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,4. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

PHẨM VIII
(Ít Người Giữ Giới, Từ Bỏ-I)

,(1)
,Sát Sanh
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ sát sanh. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ sát sanh...

,(2)
,Lấy Của Không Cho
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ lấy của không cho. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ lấy của không cho...

,(3)
,Tà Hạnh Trong Các Dục Vọng
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ tà hạnh trong các dục. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ tà hạnh trong các dục...

,(4)
,Nói Láo
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói láo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói láo...

,(5)
,Nói Ly Gián
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời ly gián. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời ly gián...

,(6)
,Nói Lời Thô Ác
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời thô ác. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời thô ác...

,(7)
,Nói Lời Phù Phiếm
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời phù phiếm. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời phù phiếm...

,(8)
,Hột Giống
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm hại các hột giống và[các loại cây cỏ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm hại các hột giống và các cây cỏ...

,(9)
,Ăn Phi Thời
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ ăn phi thời. Còn nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ ăn phi thời...

,(10)
,Hương Liệu-Trang Sức
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các đồ trang sức để mang, để đeo. Còn nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các đồ trang sức để mang, để đeo...

PHẨM IX
(Ít Người Giữ Giới, Từ Bỏ-II)

,(1)
,Xem Múa Hát
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch...

,(2)
,Giường Nằm
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các giường cao, các giường lớn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các giường cao, các giường lớn...

,(3)
,Vàng Bạc
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận vàng và bạc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận vàng và bạc...

,(4)
,Lúa Gạo-Hạt Sống
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận các lúa gạo sống. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các lúa gạo sống...

,(5)
,Thịt Sống
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận các thịt sống. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các thịt sống...

,(6)
,Đàn Bà-Con Gái
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận đàn bà, con gái. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận đàn bà, con gái...

,(7)
,Nô Tỳ
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận lấy các nô tỳ nữ, nô tỳ nam. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các nô tỳ nữ, nô tỳ nam...

,(8)
,Gia Súc (1)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận dê và dê rừng. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận dê và dê rừng...

,(9)
,Gia Súc (2)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận gà, heo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận gà và heo...

,(10)
,Gia Súc (3)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái...

PHẨM X
(Ít Người Giữ Giới, Từ Bỏ-III)

,(1)
,Ruộng Đất
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận lấy ruộng đất. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận lấy ruộng đất...

,(2)
,Mua Bán
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ mua bán. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ mua bán...

,(3)
,Môi Giới-Ðưa Tin Tức
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ không phái người môi giới hay tự mình làm môi giới. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ phái người làm môi giới, hay tự mình làm môi giới...

,(4)
,Cân Lường
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường...

,(5)
,Hối Lộ-Gian Trá-Lừa Đảo
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ hối lộ, gian trá, lừa đảo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ hối lộ, gian trá, lừa đảo...

,(6-11)
,Thương Tổn-Câu Thúc-Bứt Đoạt
,1...
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
,- Vì sao?
,3- Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,4. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

PHẨM XI
(Năm Sanh Thú)


,(1)
,Năm Sanh Thú (1)
,Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:
,1- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
,- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất. Và ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay, không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh trong địa ngục...

,(2)
,Năm Sanh Thú (2)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh trong loài bàng sanh...

,(3)
,Năm Sanh Thú (3)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ...

,(4-6)
,Năm Sanh Thú (4-6)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào địa ngục... phải tái sanh vào loài bàng sanh... phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ...

,(8-10)
,Năm Sanh Thú (8-10)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, được tái sanh giữa chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, phải tái sanh trong địa ngục... phải tái sanh trong loài bàng sanh... phải tái sanh trong cõi ngạ quỷ...

,(11-13)
,Năm Sanh Thú (11-13)
,...
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, phải tái sanh trong địa ngục... phải tái sanh trong loài bàng sanh... phải tái sanh trong cõi ngạ quỷ...

,(14-16)
,Năm Sanh Thú (14-16)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, bị tái sanh ở cõi địa ngục... bị tái sanh ở loài bàng sanh... bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ...

,(17-19)
,Năm Sanh Thú (17-19)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, bị tái sanh ở cõi địa ngục... bị tái sanh ở loài bàng sanh... bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ...

,(20-22)
,Năm Sanh Thú (20-22)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ các loài bàng sanh, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ các loài bàng sanh, bị tái sanh trong cõi địa ngục... bị tái sanh trong loài bàng sanh... bị tái sanh trong cõi ngạ quỷ...

,(23-25)
,Năm Sanh Thú (23-25)
,...
, Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh, được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh, bị tái sanh trong cõi địa ngục... bị tái sanh trong loài bàng sanh... bị tái sanh trong cõi ngạ quỷ...

,(26-28)
,Năm Sanh Thú (26-28)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở cõi địa ngục... bị tái sanh trong loài bàng sanh... bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ...

,(29)
,Năm Sanh Thú (29)
,...
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở địa ngục...

,(30)
,Năm Sanh Thú (30)
,...
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở loài bàng sanh...

,(31)
,Năm Sanh Thú (31)
[1]
,1...
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.
,- Vì sao?
,3. Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế.
,Thế nào là bốn?
,4- Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
[2]
,1- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
,- "Ðây là Khổ".
,2. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
,- "Ðây là Khổ tập".
,3. Một cố gắng cần phải làm rõ biết:
,- "Ðây là khổ diệt".
,4. Một cố gắng phải làm để rõ biết:
,- "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

[Hết Kinh Tương Ưng Bộ]

...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 5

[Thiên Đại Phẩm]
Chương 12
TƯƠNG ƯNG 4 THÁNH ĐẾ

———————————————————————————————
PHẨM I
(Ðịnh)

,(1)
,Ðịnh
,Ở Sàvatthi...
,- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati).
[1]
,Và như thật rõ biết gì?
,1. Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ".
,2. Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ tập".
,3. Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ diệt".
,4. Như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết.
[2]
,1- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
,- "Ðây là Khổ".
,2. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
,- "Ðây là Khổ tập".
,3. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
,- "Ðây là Khổ diệt".
,4. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
,- "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(2)
,Thiền Tịnh (Patisallàna)
,1- Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, như thật rõ biết.
,2. Như thật rõ biết gì?
,... (Như đoạn [1] kinh trên) ...
,- Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, như thật rõ biết.
,3- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(3)
,Thiện Nam Tử (1)
,1- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
,Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
,Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
,Thế nào là bốn?
,2. Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình...
,... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này.
,3- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(4)
,Thiện Nam Tử (2)
,1- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
, ... trong thời vị lai... sẽ như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
, ... trong thời hiện tại... như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,2- Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, đã chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã như thật chứng ngộ...
,... sẽ như thật chứng ngộ... như thật chứng ngộ.
,3- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(5)
,Sa-Môn, Bà-La-Môn (1)
,1- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, đã như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
,... trong thời vị lai... sẽ như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
,... trong thời hiện tại... như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,2- Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác...
,... sẽ như thật chánh đẳng giác...
,... như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế này.
,- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(6)
,Sa-Môn, Bà-La-Môn (2)
,1- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
,... trong thời vị lai... sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
, ... trong thời hiện tại... tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,2. Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác...
,... sẽ tuyên bố...
,... tuyên bố như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy đã tuyên bố... sẽ tuyên bố... tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
,3- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(7)
,Suy Tầm
[1]
,1- Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm.
,- Vì sao?
,2- Các tầm ấy, không liên hệ đến mục đích, chúng không phải căn bản cho Phạm hạnh, chúng không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
[2]
,1. Khi các Ông suy tầm, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tầm: "Ðây là khổ"... hãy suy tầm: "Ðây là Khổ tập"... hãy suy tầm: "Ðây là Khổ diệt"... hãy suy tầm: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,- Vì sao?
,2- Các suy tầm ấy, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(8)
,Suy Tư (Cintà)
,1- Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư ác, bất thiện tầm:
,- "Thế giới là thường hằng", hay "Thế giới là vô thường", hay "Thế giới là hữu biên", hay "Thế giới là vô biên", hay "Sinh mạng này, thân thể này là một", hay "Sinh mạng này, thân thể này là khác", hay "Như Lai có tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
,- Vì sao?
,... (Như kinh trên) ...
,2. Và có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: "Ðây là Khổ"... hãy suy tư: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,- Vì sao?
,... (Như kinh trên) ...

,(9)
,Tranh Luận (Viggàhikà)
,1- Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau:
,- "Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được".
,- Vì sao?
,Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
,2. Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói:
,- "Ðây là Khổ"... hãy nói: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,- Vì sao?
,Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh.

,(10)
,Lời Nói
[1]
,1- Này các Tỷ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh: như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu...
,- Vì sao?
,2- Những câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

[2]
,1. Có nói chuyện, các Ông hãy nói chuyện:
,- "Ðây là Khổ"... hãy nói chuyện: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,- Vì sao?
,2- Các câu chuyện này, liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

PHẨM II
(Chuyển Pháp Luân)

,(1)
,Như Lai Thuyết (1)
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, chỗ Vườn Nai.
,Tại đấy, Thế Tôn bảo chúng năm Tỷ-kheo:
[1]
,- Có hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia không nên thực hành theo.
,Thế nào là hai?
,1- Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích.
,2- Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích.
,3. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
,- Và thế nào là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn?
,4- Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là:
,- chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
,- Ðây là con đường trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
[2]
,1- Ðây là Thánh đế về Khổ:
,- Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ.
,Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
,2. Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
,3. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt:
,- chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.
,4. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là:
,- chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

[3]
,1. Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
,Ðây là Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri, đối với các pháp, từ trước Ta chưa từng nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
,- Ðây là Thánh đế về Khổ đã được liễu tri, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
,2. Ðây là Thánh đế về Khổ tập, đối với các pháp... quang sanh.
,Ðây là Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận, đối với các pháp... quang sanh.
,Ðây là Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn tận, đối với các pháp... quang sanh.
,3. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, đối với các pháp... quang sanh.
,- Ðây là Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ, đối với các pháp... quang sanh.
,Ðây là Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ, đối với các pháp... quang sanh.
,4. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến khổ diệt, đối với các pháp... quang sanh.
,Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập, đối với các pháp... quang sanh.
,Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
[4]
,1. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật không khéo thanh tịnh ở nơi Ta; thời cho đến khi ấy, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
,2. Và cho đến khi nào, trong bốn Thánh đến này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
,- Tri kiến khởi lên nơi Ta:
,- "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa".
[5]
,Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Chúng năm Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy.
,Trong khi lời dạy này được tuyên bố, Tôn giả Kondanna khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, không cấu uế như sau:
,- "Phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt".
[6]
,1- Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên:
,- "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời".
,2. Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên:
,- "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời".
,3. Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba... chư Thiên Yàmà... chư Thiên Tusità... chư Hóa lạc thiên... chư Tha hóa tự tại thiên... chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên:
,- "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận... bất cứ một ai ở đời".
,- Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên.
,- Rồi Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng sau đây:
,- "Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna (Kiều-trần-như)! Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna!"
,Như vậy Tôn giả Kondanna được tên là Annàta Kondanna (A-nhã Kiều-trần-như).

,(2)
,Như Lai Thuyết (2)
,1- Thánh đế về Khổ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
,Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri này, đối với các pháp từ trước đến nay các Như Lai chưa từng được nghe... quang sanh.
,Thánh đế về Khổ đã được liễu tri này, đối với các pháp... quang sanh.
,2. Thánh đế về Khổ tập này, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe... quang sanh.
,- Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn diệt này, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe.... quang sanh.
,- Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn diệt này, đối với các pháp... quang sanh.
,3. Thánh đế về Khổ diệt này, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe... quang sanh.
,- Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ này, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe... quang sanh.
,Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ này, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe... quang sanh.
,4. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt này, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe... quang sanh.
,Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập này, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe... quang sanh.
,Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

,(3)
,Với Uẩn
,- Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này.
,- Thế nào là bốn?
,Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,1. Và thế nào là Thánh đế về Khổ?
,Cần phải được nói là năm thủ uẩn: Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ.
,2. Và thế nào là Thánh đế về Khổ tập?
,- Chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập.
,3. Và thế nào là Thánh đế về Khổ diệt?
,Chính là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ diệt.
,4. Và thế nào là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt?
,Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,Các pháp này, là các Thánh đế.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(4)
,Với Xứ
,- Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này.
,... (như trên)...
,1. Và thế nào là Thánh đế về Khổ?
,- Cần phải trả lời là sáu nội xứ.
,Thế nào là sáu?
,Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ.
,Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ.
,2-4:... (giống như của kinh trên).

,(5)
,Thọ Trì (1)
,1- Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì bốn Thánh đế Ta đã thuyết giảng cho các Ông.
,Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, con có thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.
,2- Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ tập là Thánh đế thứ hai do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ diệt là Thánh đế thứ ba do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng.
,Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.
,3- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng.
,Này Tỷ-kheo, Khổ là Thánh đế thứ nhất do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì... Này Tỷ-kheo, Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì.
,Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì như vậy bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng.
,4. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(6)
,Thọ Trì (2)
,... (giống như đoạn đầu của kinh trên)
[1]
,1- Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng.
,Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau:
,- "Khổ này được Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ ấy là Thánh đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh đế thứ nhất".
,Sự kiện như vậy không xảy ra.
,2-3:
,- Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ tập là Thánh đế thứ hai... Khổ diệt là Thánh đế thứ ba....
,4. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng.
,- Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau:
,- "Con Ðường đưa đến Khổ diệt này, được Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường đưa đến Khổ diệt ấy là Thánh đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường đưa đến Khổ diệt khác là Thánh đế thứ tư".
,Sự kiện này không xẩy ra.
,Bạch Thế Tôn, như vậy con thọ trì bốn Thánh đế do Thế Tôn thuyết giảng.
,- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng.
[2]
,1. Khổ, này Tỷ-kheo, là Thánh đế thứ nhất, do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì.
,- Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau:
,- "Khổ này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ này là Thánh đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh đế thứ nhất".
,- Sự kiện như vậy không xảy ra.
,2- Khổ tập là Thánh đế thứ hai...
,3. Khổ diệt là Thánh đế thứ ba....
,4. Con đường đưa đến khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì.
,Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau:
,- "Con Ðường đưa đến Khổ diệt này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường đưa đến Khổ diệt này là Thánh đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường đưa đến Khổ diệt khác là Thánh đế thứ tư".
,Sự kiện như vậy không xẩy ra.
,Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì như vậy bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng.
,- Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(7)
,Vô Minh
,Rồi một Tỷ-kheo...
,Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
,1- "Vô minh, vô minh", được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào là đi đến vô minh (avijjàgato)?
,2- Này Tỷ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,Này Tỷ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh.
,3. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(8)
,Minh
, ...
,Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
,1- "Minh, minh", được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là minh? Và cho đến như thế nào là đi đến minh?
,2- Này Tỷ-kheo, chính là rõ biết Khổ, rõ biết Khổ tập, rõ biết Khổ diệt, rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,Này Tỷ-kheo, đấy gọi là minh. Cho đến như vậy là đi đến minh.
,3. Do vậy, này Tỷ-kheo... (như kinh trên) ...

,(9)
,Thi Thiết (Sankàsanà)
,1- Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ (vannà), vô lượng văn (vyanjanà), vô lượng thi thiết (sankàsanà). Ðây là Thánh đế về Khổ.
,2... Ðây là Khổ tập...
,3... Ðây là Khổ diệt...
,4. Ðây là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ, vô lượng văn, vô lượng thi thiết. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(10)
,Như Thật (Tathà)
,- Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật (avitathàni), không khác như thật (anannathàni).
,- Thế nào là bốn?
,1. Ðây là Khổ, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.
,2. Ðây là Khổ tập, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.
,3. Ðây là Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.
,4. Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.
,- Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

PHẨM III
(Kotigàma)

,(1)
,Minh (1)
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú giữa các dân chúng Vajji, tại Kotigàma.
,Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
[1]
,- Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.
,Thế nào là bốn?
,1. Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.
,2... Thánh đế về Khổ tập...
,3...Thánh đế về Khổ diệt...
,4. Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.
[2]
,1- Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ tập đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt.
,2. Ðược chặt đứt là hữu ái, được đoạn tận là những gì đưa đến tái sanh (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa.
,3. Thế Tôn thuyết giảng như vậy; bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Do không như thật thấy,
,Bốn sự thật bậc Thánh,
,Phải lâu ngày luân chuyển,
,Trải qua nhiều đời sống.
,Khi chúng được thấy rõ,
,Mầm tái sanh nhổ sạch,
,Gốc khổ được đoạn tận,
,Nay không còn tái sanh.

,(2)
,Minh (2)
,1- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ", không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ tập", không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ diệt", không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, Bà-la-môn hạnh.
,2. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, như thật rõ biết: "Ðây là Khổ", như thật rõ biết: "Ðây là Khổ tập", như thật rõ biết: "Ðây là Khổ diệt", như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay của Bà-la-môn hạnh.
,3. Thế Tôn thuyết giảng như vậy; bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
,Những ai không rõ biết,
,Khổ và Khổ tập khởi,
,Không rõ như thế nào,
,Khổ đoạn tận không dư,
,Không biết Con Ðường ấy
,Ðưa đến chỉ tịnh Khổ.
,Những vị ấy không có
,Tâm và tuệ giải thoát,
,Họ không thể chấm dứt,
,Phải đi đến sanh già.
,Những vị nào rõ biết,
,Khổ và Khổ tập khởi,
,Và rõ như thế nào,
,Khổ đoạn tận không dư,
,Rõ biết Con Ðường ấy
,Ðưa đến chỉ tịnh khổ.
,Tâm giải thoát thành tựu,
,Và các tuệ giải thoát,
,Họ có thể chấm dứt,
,Không đi đến sanh già.

,(3)
,Chánh Ðẳng Giác
,Tại Sàvatthi...
,- Có bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo.
,Thế nào là bốn?
,1- Thánh đế về Khổ,... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,2. Này các Tỷ-kheo, do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(4)
,A-La-Hán
,Tại Sàvatthi...
,1- Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy đã như thật chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
, Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời vị lai, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy sẽ chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
,Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời hiện tại, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,2. Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ như thật đã chánh đẳng chánh giác...
,... sẽ như thật chánh đẳng chánh giác...
,... hiện như thật chánh đẳng chánh giác; tất cả những vị ấy hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(5)
,Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc
,- Với người biết, với người thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy.
,Và do biết gì, do thấy gì, các lậu hoặc được đoạn tận?
,1. Do biết, do thấy: "Ðây là Khổ", các lậu hoặc được đoạn tận.
,2. Do biết, do thấy: "Ðây là Khổ tập"...
,3... "Ðây là Khổ diệt"...
,4. Do biết, do thấy: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", các lậu hoặc được đoạn tận.
,Do biết vậy, do thấy vậy, các lậu hoặc được đoạn tận.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(6)
,Thân Hữu
,1- Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn, những ai mà các Ông nghĩ cần nghe theo như bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay huyết thống, thì này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải khích lệ những người ấy, huấn luyện, an trú các người ấy trong sự chứng ngộ như thật bốn Thánh đế.
,- Thế nào là bốn?
,2. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn... như thật bốn Thánh đế.
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(7)
,Như Thật
,1- Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này.
,Thế nào là bốn?
,- Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,2. Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, chúng được gọi là Thánh đế.
,- Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như kinh trên) ...

,(8)
,Thế Giới
,1 ... (Như đoạn số 1 kinh trên) ...
,2- Này các Tỷ-kheo, trong các thế giới, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, và quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, Như Lai là bậc Thánh, do vậy được gọi là Thánh đế.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như kinh trên) ...

,(9)
,Cần Phải Liễu Tri hay Thắng Tri
,1- Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này.
,- Thế nào là bốn?
,Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,2. Trong bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, có Thánh đế cần phải liễu tri, có Thánh đế cần phải đoạn tận, có Thánh đế cần phải chứng ngộ, có Thánh đế cần phải tu tập.
,3. Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, cần phải liễu tri. Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận. Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập.
,Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như kinh trên) ...

,(10)
,Gavampati
,Một thời, một số đông Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Ceti tại Sahancanika.
,Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo Thượng tọa sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong ngôi nhà tròn, câu chuyện sau đây được khởi lên:
,1- "Này chư Hiền, ai thấy Khổ, người ấy thấy Khổ tập, thấy Khổ diệt, thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Govampati nói với các Tỷ-kheo Thượng tọa:
,2- "Tôi có tự thân nghe từ Thế Tôn, thưa chư Hiền, tự thân lãnh thọ như sau:
,- "Này các Tỷ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,- Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt".

PHẨM IV
(Ví Dụ)


,(1)
,Simsapà
,Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.
,Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo:
,1- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?
,- Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.
,2- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!
,Nhưng tại sao, Ta lại không nói ra những điều ấy?
,3. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.
,Và này các Tỷ-kheo, điều gì mà Ta nói?
,4- "Ðây là Khổ", này các Tỷ-kheo, là điều Ta nói. "Ðây là Khổ tập", là điều Ta nói. "Ðây là Khổ diệt", là điều Ta nói. "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", là điều Ta nói.
,Nhưng tại sao, Ta lại nói ra những điều ấy?
,5- Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.
,6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(2)
,Cây Keo (Khandira)
[1]
,- Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau:
,1- "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau";
sự kiện này không xảy ra.
,2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nói như sau:
,- "Với những lá cây keo, hay lá cây palàsa (một thứ cây có bông màu đỏ thắm mọc trước lá) hay lá cây kha-lê-lặc (àmalaka), tôi sẽ làm giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt";
sự kiện này không xảy ra.
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau:
,- "Không như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... không như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau";
sự kiện này không xảy ra.
[2]
,- Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói như sau:
,1- "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau";
sự kiện này có xảy ra.
,2. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người nói như sau:
,- "Với những lá sen hay lá pasàla hay lá màluva (một loại cây leo), tôi sẽ làm các giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt";
sự kiện này có xảy ra.
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau:
,- "Sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau";
,sự kiện này có xảy ra.
,3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(3)
,Cái Gậy
,1- Ví như, một cây gậy được quăng lên hư không, khi thì rơi xuống đầu gốc, khi thì rơi xuống chặng giữa, khi thì rơi xuống đầu ngọn.
,- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, dong ruổi, luân chuyển, khi thì đi từ thế giới này đến thế giới kia, khi thì đi từ thế giới kia đến thế giới này.
,2- Vì sao? Vì rằng không thấy bốn Thánh đế.
,- Này các Tỷ-kheo, bốn Thánh đế ấy là gì?
,3- Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,4- Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như kinh trên) ...

,(4)
,Khăn Ðầu
,1- Này các Tỷ-kheo, khi khăn đầu hay đầu bị lửa cháy, thời phải làm gì?
,- Bạch Thế Tôn, khi khăn đầu hay đầu bị bị lửa cháy, để dập tắt khăn đầu hay đầu bị lửa cháy cần phải có ước muốn tăng thượng (chanda), tinh tấn (vàyàmo), cố gắng (ussàho), nỗ lực (ussohii), không có thối thất (appativami), chánh niệm và tỉnh giác.
,3- Bỏ qua đầu và khăn bị cháy, này các Tỷ-kheo, không có tác ý để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế, chưa được chứng ngộ, cần phải có ước muốn tăng thượng, tinh tấn, cố gắng, nỗ lực, không thối thất, chánh niệm và tỉnh giác.
,- Thế nào là bốn?
,4. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,5- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(5)
,Một Trăm Cây Thương (Sattisata)
,1- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người tuổi thọ đến một trăm năm, mạng sống đến một trăm năm. Có người đến nói với người ấy:
,- "Này Ông, vào buổi sáng, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Vào buổi trưa, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Vào buổi chiều, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Này Ông, như vậy mỗi ngày Ông bị đâm ba trăm cây thương, với tuổi thọ đến một trăm năm, với mạng sống đến một trăm năm. Sau một trăm năm, Ông sẽ được giác ngộ bốn Thánh đế trước kia chưa được giác ngộ".
,2. Này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử hiểu biết nghĩa lý (atthavasikena) có thể chấp nhận chăng?
,Vì sao?
,3- Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ.
,4. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ.
,Thế nào là bốn?
,5. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
, ... (Như đoạn cuối kinh trên) ...

,(6)
,Sanh Loại (Pànà)
,1. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người trên cõi Diêm-phù-đề này chặt cỏ, cây, cành, lá và chất thành một đống. Chất thành một đống xong, vị ấy làm thành những cây gậy có vót nhọn (sulàm). Sau khi làm thành những cây có vót nhọn, vị ấy đâm những sanh loại lớn trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn lớn; vị ấy đâm những sanh loại bậc trung trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn bậc trung; vị ấy đâm những sanh loại nhỏ trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn bậc nhỏ.
,2. Này các Tỷ-kheo, các sinh loại to lớn trong biển lớn không có thể cạn sạch hết. Dầu rằng tất cả cỏ, cây, cành, lá ở cõi Diêm-phù-đề có thể đem ra dùng hết sạch.
,3. Nhưng còn nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, là những sinh loại nhỏ trong biển lớn không dễ gì đâm chúng trên các gậy có vót nhọn.
,- Vì sao?
,- Này các Tỷ-kheo, vì cá thể (attabhàva) của chúng rất tế nhị.
,4. Lớn vậy, này các Tỷ-kheo, là đọa xứ.
,5. Và này các Tỷ-kheo, được thoát khỏi đọa xứ lớn ấy là người nào đã thành tựu chánh kiến, như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(7)
,Ví Dụ Mặt Trời (1)
,1- Này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông.
, 2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước sự giác ngộ như thật bốn Thánh đế, tức là chánh tri kiến.
,3. Với Tỷ-kheo có chánh tri kiến này, chờ đợi là vị ấy sẽ rõ biết: "Ðây là Khổ"... Vị ấy sẽ rõ biết. "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,4. Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như đoạn cuối kinh trên) ...

,(8)
,Ví Dụ Mặt Trời (2)
[1]
,1- Cho đến khi nào, mặt trăng, mặt trời không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám, không thể phân biệt đêm và ngày, không thể phân biệt tháng và nửa tháng, không thể phân biệt thời tiết hằng năm.
,2. Cho đến khi nào, mặt trăng, mặt trời hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Và có sự phân biệt đêm ngày, có sự phân biệt tháng và nửa tháng, có sự phân biệt thời tiết hằng năm.
[2]
,1. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, không có hào quang lớn. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám. Cho đến khi ấy, không có sự tuyên bố, không có sự thuyết giảng, không có sự trình bày, không có sự thiết lập, không có sự khai diễn, không có sự phân tích, không có sự hiển thị bốn Thánh đế.
,2. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Cho đến khi ấy, có sự tuyên bố, có sự thuyết giảng, có sự trình bày, có sự thiết lập, có sự khai diễn, có sự phân tích, có sự hiển thị bốn Thánh đế.
,Thế nào là bốn?
,3. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,4- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(9)
,Cột Trụ (Indakhilo)
[1]
,1- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt (ullokenti) một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét:
,- "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
,2. Ví như, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc.
,- Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ.
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét:
,- "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
,3. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế.
[2]
,1- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết : "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét:
,- "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
,2. Ví như, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển.
,Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu.
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
,- Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
,3. Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy.
,- Thế nào là bốn?
,4. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,5- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

,(10)
,Tranh Luận
,1- Tỷ-kheo nào, như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt". Nếu từ phương Ðông có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng:
,- "Ta sẽ tranh luận",
người này không thể làm cho rung chuyển, làm lay chuyển, làm động chuyển Tỷ-kheo ấy một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra.
,Nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng:
,- "Ta sẽ tranh luận";
người này không thể làm rung chuyển, làm lay chuyển, làm động chuyển Tỷ-kheo ấy một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra.
,2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cột đá dài đến mười sáu khuỷu tay, và tám khuỷu tay được chôn dưới đất từ bàn tọa và tám khuỷu tay ở phía trên. Nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, không thể làm cột đá ấy rung chuyển, lay chuyển, động chuyển, nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, không thể làm cho cột đá ấy rung chuyển, lay chuyển, động chuyển.
,Vì sao? Vì bàn tọa cột trụ được đóng sâu, khéo chôn sâu.
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Nếu từ phương Ðông có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng:
,- "Ta sẽ tranh luận",
vị ấy có thể làm cho Tỷ-kheo kia rung chuyển, lay chuyển, động chuyển một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra.
,Nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng:
,- "Ta sẽ tranh luận",
vị ấy có thể làm cho Tỷ-kheo kia rung chuyển, lay chuyển, động chuyển một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra.
,3- Vì sao? Vì bốn Thánh đế đã được khéo thấy.
,Thế nào là bốn?
,4. Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
,5- Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

PHẨM V-XI
[Tương Ưng Sự Thật]

...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG DỰ LƯU (tt)


...
TƯƠNG ƯNG DỰ LƯU
(tiếp theo)

PHẨM III
(Saranàni)

,(1)
,Mahànàma (1)
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.
,Rồi họ Thích Mahànàma đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:
,- Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỷ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy.
,1- Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang.
,Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau:
,- "Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?"
,2- Chớ có sợ, này Mahànàma! Chớ có sợ, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của ông!
,3. Này Mahànàma, với ai đã lâu ngày tâm tu tập trọn vẹn về tín, tâm tu tập trọn vẹn về giới, tâm tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, dầu thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, hay giả-can ăn, hay các loại chúng sanh sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ, thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng.
,(i)- Ví như, một người nhận chìm một ghè sữa bơ, hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu và đập bể ghè ấy. Ở đây, các mảnh ghè hay mảnh vụn chìm xuống nước; nhưng sữa, bơ hay dầu thời nổi lên, trồi lên trên.
,Cũng vậy, với ai đã lâu ngày, tâm được tu tập trọn vẹn về tín, tâm được tu tập trọn vẹn về giới, tâm được tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm được tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm được tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, đoạn diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, giả-can ăn hay các sanh loại sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ; thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng.

,4. Này Mahànàma, đã lâu ngày tâm Ông được tu tập trọn vẹn về tín, được tu tập trọn vẹn về giới, được tu tập trọn vẹn về sở văn, được tu tập trọn vẹn về thí xả, được tu tập trọn vẹn về trí tuệ.
,Chớ có sợ, này Mahànàma! Không ác là cái chết của Ông!

,(2)
,Mahànàma (2)
,Như vầy tôi nghe.
,Rồi Mahànàma...
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, Kapilavatthu...
,- Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Không ác là cái chết của Ông!
[1]
,Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
,- Thế nào là bốn?
,1- Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn."
,2.... đối với Pháp...
,3... đối với Tăng...
,4... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
[2]
,1. Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
,- Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
,2. Cũng vậy, này Mahànàma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

,(3)
,Mahànàma (3)
,Nhân duyên ở Kapilavatthu.
,Rồi họ Thích Mahànàma đi đến họ Thích Godhà; sau khi đến, nói với họ Thích Godhà:
[1]
,- Này Godhà, theo như Hiền giả biết một người là bậc Dự lưu, thành tựu bao nhiêu pháp thời không bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?
,- Này Mahànàma, theo như tôi biết một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,1. Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn".
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng... là vô thượng phước điền ở đời.
,Này Mahànàma, do thành tựu ba pháp này, tôi được biết một người là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
[2]
,Nhưng này Mahànàma, theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp thời không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?
,- Này Gohdà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,- Thế nào là bốn?
,1. Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn".
,2... đối với Pháp...
,3... đối với Tăng...
,4... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp này thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,- Hãy chờ một lát, này Mahànàma, hãy chờ một lát, này Mahànàma. Thế Tôn biết rõ việc này, thành tựu hay không thành tựu những pháp này. Này Godhà, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn và sau khi đến, hãy hỏi về ý nghĩa này.
[3]
,Rồi họ Thích Mahànàma và họ Thích Godhà đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn về câu chuyện, rồi thưa:
,1. Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu nói vấn đề pháp sự khởi lên (dhamma samuppàda), và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo và chúng Tỷ-kheo-ni. Bên nào là Thế Tôn... Mong Thế Tôn chấp nhận.
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni và nam cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn... Mong Thế Tôn chấp nhận.
,Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, và nữ cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn... Mong Thế Tôn chấp nhận.
,Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, chúng Thiên giới, chúng Ma giới, chúng Phạm thiên giới, quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.
,2- Họ Thích Mahànàma đã nói như vậy, này Godhà, Ông có nói gì không?
,- Họ Thích Mahànàma đã nói như vậy, con không có nói gì trừ lời nói "Thiện", trừ lời nói "Tốt".

,(4)
,Sarakàni hay Saranàni (1)
,Nhân duyên ở Kapilavatthu.
[1]
,Lúc bấy giờ, họ Thích Sarakàni mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chứng quả giác ngộ.
,1- Tại đấy, một số đông họ Thích tụ họp lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán:
,- "Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! Ngày nay ai cũng có thể thành bậc Dự lưu, vì rằng họ Thích Sarakàni đã mệnh chung, được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu".
,Rồi họ Thích Mahànàma đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, Mahànàma bạch Thế Tôn:
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, họ Thích Sarakàni đã mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu... chứng quả giác ngộ. Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông họ Thích khi tụ tập lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán:
,- "Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu!...
,... Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu"
,2. Này Mahànàma, một cư sĩ lâu ngày qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng làm sao có thể đi đến đọa xứ được?
,Này Mahànàma, nếu nói một cách chơn chánh:
,- Người cư sĩ nào đã lâu ngày qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói một cách chơn chánh phải nói là họ Thích Sarakàni. Này Mahànàma, họ Thích Sarakàni đã lâu ngày quy y Phật, quy y Pháp, qui y Tăng, làm sao có thể đi đến đọa xứ?
[2]
,1. Ở đây, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ (hàsapanna), có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát.
,Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
,Người này, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
,2. Ở đây, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành nhưng không thành tựu giải thoát.
,Vị ấy do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.
,- Người này, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
,3. Ở đây, có người thành tựu lòng tịnh tin đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát.
,Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, đoạn tận khổ đau.
,Người này, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
,4. Ở đây, có người thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát.
,Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,Người này, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
,5. Ở đây, có người không có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành... không thành tựu giải thoát.
,Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn và những pháp này do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn quán sát với trí tuệ.
,Người này, không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ.
,6. Ở đây, có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát.
,Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, (hay) chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai.
,Người này, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sanh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
,7. Nếu những cây ta-la lớn này, biết những gì là thiện thuyết, ác thuyết, thời Ta cũng sẽ tuyên bố những cây ấy là những bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ, huống nữa là họ Thích Sarakàni.
,Này Mahàanàma, họ Thích Sarakàni, sau khi mệnh chung, đã chấp nhận học giới.

,(5)
,Sarakàni hay Saranàri (2)
,Nhân duyên ở Kapilavatthu.
, [I]
[1]
, ... (giống như kinh trên) ...
[2]
,1- Nhưng ở đây, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành, thành tựu giải thoát.
,Vị này sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, chứng được Vô hành Niết-bàn, chứng được Hữu hành Niết-bàn, chứng được Thượng lưu, sanh ở Sắc cứu cánh thiên.
,Người này, được giải thoát khỏi địa ngục... được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
,2. Ở đây, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, không có trí huệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát.
,Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất Lai, chỉ một lần trở lui cõi đời này.
, Người này được giải thoát khỏi địa ngục... được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
,3. Ở đây, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật:
,- "Ðây là là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,... đối với Pháp... đối với chúng Tăng; không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát.
,- Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,Người này, được giải thoát khỏi địa ngục... được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
,4. Ở đây, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Thế Tôn".
,... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Và những pháp do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn, quán sát với trí tuệ.
,Người này, không có địa ngục... không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
,5. Ở đây, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với Tăng, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, lòng ái mộ đối với Như Lai.
,- Người này, không có đi đến địa ngục... không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
, [II]
[1]
,1- Ví như, này Mahànàma, có đám ruộng xấu, đám đất xấu, các gốc cây chưa được phá hủy, các hột giống bị bể nát, bị hư thối, bị gió nắng làm cho hư hại, không thể nẩy mầm, không khéo cấy trồng, và trời không mưa lớn thích hợp; thời các hột giống ấy có thể lớn, tăng trưởng, lớn mạnh không?
,- Thưa không, bạch Thế Tôn.
,2- Cũng vậy, ở đây, pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, không được một vị Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Ta nói rằng pháp này như ở đám ruộng xấu.
,3- Vị đệ tử ấy sống trong pháp ấy, thực hiện pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng, người này giống như hột giống xấu.
[2]
,Ví như, này Mahànàma, một đám ruộng tốt, đất tốt, các gốc khéo phá hủy, các hột giống không bị bể nát, không bị hư thối, gió nắng không làm hư hại, có thể nẩy mầm, khéo cấy, khéo trồng và trời mưa lớn thích hợp. Như vậy, các hột giống ấy có lớn lên, có tăng trưởng, có lớn mạnh không?
,- Thưa có, bạch Thế Tôn.
,2. Cũng vậy, ở đây, pháp được khéo giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly, đưa đến an tịnh, được bậc Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng, Ta nói pháp này như đám ruộng tốt.
,3. Vị đệ tử sống trong pháp ấy, thực hành theo pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng người này như hột giống tốt, huống nữa là họ Thích Sarakàni.
,Này Mahànàma, họ Thích Sarakàni, khi mạng chung, đã làm viên mãn học giới.

,(6)
,Anàthapindika (1)
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika đang bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Rồi gia chủ Anàthapindika bảo một người:
,- Hãy đến, này Bạn. Hãy đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta và thưa:
,- "Gia chủ Anàthapindika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta";
,và thưa:
,- "Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sàriputta đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika vì lòng từ mẫn!"
,- Thưa vâng, Gia chủ.
,Người ấy, vâng đáp gia chủ Anàthapindika, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sàriputta như vậy.
,Tôn giả Sàriputta im lặng nhận lời.
,Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát với Tôn giả Ananda là Sa-môn tùy tùng, đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Anàthapindika:
[1]
,- Này Gia chủ, Gia chủ có kham nhẫn nổi không? Gia chủ có chịu đựng nổi không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không có tăng trưởng?
,- Thưa Tôn giả, con không thể kham nhẫn. Con không thể chịu đựng. Kịch liệt là khổ thọ nơi con. Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có dấu hiệu chúng tăng trưởng, không giảm thiểu.
,1- Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Phật, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Phật. Trái lại, Gia chủ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,- Nếu Gia chủ tự thấy lòng tịnh tín bất động của Gia chủ đối với đức Phật, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
,2. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Pháp, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Pháp. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp:
,- "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... tự mình giác hiểu".
,- Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
,3. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín như vậy đối với chúng Tăng. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín đối với chúng Tăng:
,- "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời".
,Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
,4. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu ác giới, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào... địa ngục. Nhưng Gia chủ không có ác giới như vậy. Trái lại, Gia chủ có giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Nếu Gia chủ tự thấy các giới được các bậc Thánh ái kính ấy, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
,5. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà kiến như vậy, nên sau khi thân hoại... địa ngục. Nhưng Gia chủ không có tà kiến như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh kiến. Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh kiến của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
,6-14:
,Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà tư duy... tà ngữ... tà nghiệp... tà mạng... tà tinh tấn... tà niệm... tà định... tà trí... tà giải thoát như vậy, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
,Nhưng Gia chủ không có từ tư duy... tà ngữ... tà nghiệp... tà mạng... tà tinh tấn... tà niệm... tà định... tà trí... tà giải thoát như vậy.
,Trái lại, Gia chủ có chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định... chánh trí... chánh giải thoát.
,Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định... chánh trí... chánh giải thoát của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
[2]
,Rồi các cảm thọ của gia chủ Anàthapindika lập tức được an tịnh.
,Rồi gia chủ Anàthapindika mời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Ananda dùng bữa ăn (từ nơi nồi nấu cơm của mình).
,Sau khi Tôn giả Sàriputta ăn xong, tay đã rời khỏi bát, gia chủ Anàthapindika đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, lấy một ghế thấp và ngồi xuống một bên. Tôn giả Sàriputta tán thán gia chủ Anàthapindika với những lời kệ này:
,Ai tin tưởng Như Lai,
,Bất động khéo an lập.
,Ai có giới thiện lành,
,Ðược bậc Thánh ái kính.
,Ai tin tưởng chúng Tăng,
,Sở kiến được chánh trực,
,Người ấy gọi "Không nghèo",
,Ðời sống không uổng phí.
,Do vậy, bậc Hiền minh
,Cần tu tập tín giới,
,Thấy rõ được Chánh pháp,
,Không quên lời Phật dạy.
,Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lời hoan hỷ tán thán với các lời kệ này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
[3]
,Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Aananda:
,- Này Ananda, Ông đi đâu để nghỉ trưa?
,- Bạch Thế Tôn, gia chủ Anàthapindika đã được Tôn giả Sàriputta giáo giới với lời giáo giới như thế này, thế này...
,- Hiền minh, này Ananda, là Sàriputta! Ðại tuệ, này Ananda, là Sàriputta! Vị ấy có thể chia chẻ bốn Dự lưu phần thành mười tướng.

,(7)
,Anàthapindika (2)
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
,[I]
, ... (giống như kinh trước, chỉ khác, đây là Tôn giả Ananda chứ không phải Tôn giả Sàriputta, và Tôn giả Ananda đi chỉ có một mình, cho đến... có dấu hiệu tăng trưởng, không có giảm thiểu).
,[II]
[1]
,1- Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,Thế nào là bốn?
,1- Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,2. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,3. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,4. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,- Do thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
[2]
,- Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,Thế nào là bốn?
,1- Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật:
,- "Ðây là là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn".
,Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,2. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp:
,-"Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình giác hiểu".
,Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,Lại nữa, này Gia chủ... lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng:
,- "Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời".
,... về đời sau.
,4. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Khi tự thấy sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính của mình, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,Thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
,[III]
,- Thưa Tôn giả Ananda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi?
,1. Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4- Thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici) tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.
,- Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi.

,(8)
,Anàthapindika (3)
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
,- Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau:
,- "Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ".
[1]
,- Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được tịnh chỉ?
,1. Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ.
,- Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
,2... khởi lên cho người lấy của không cho...
,3... khởi lên cho người tà hạnh trong các dục...
,4... khởi lên cho người nói láo...
,5. Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ.
,- Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
,Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ.
[2]
,Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
,1. Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn".
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4. vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
[3]
,- Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?
,Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi:
,1- Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử.
,- Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
,2. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt... nên lão tử diệt.
,Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.
,Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt.
,- Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau:
,- "Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ".

,(9)
,Sợ Hãi hay Vị Tỷ-Kheo
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,... [Như kinh trên (8), chỉ khác, đây là một số đông Tỷ-kheo đến đức Phật và đức Phật thuyết cho các vị ấy].

,(10)
,Licchavi hay Nandaka
,Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, chỗ ngôi nhà có nóc nhọn.
,Rồi đại thần người Licchavi tên là Nandaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
[1]
,Thế Tôn nói với Nandaka:
,- Này Nandaka, thành tựu bốn pháp, một vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu... chứng quả giác ngộ.
,Thế nào là bốn?
,1. Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4. Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh... đưa đến Thiền định.
[2]
,1- Thành tựu bốn pháp này, này Nandaka, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,2- Thành tựu bốn pháp này, này Nadaka, vị Thánh đệ tử liên hệ đến tuổi thọ chư Thiên và loài Người, liên hệ đến dung sắc, liên hệ đến an lạc, liên hệ đến thanh danh, liên hệ đến lực tăng thượng (adhipateyya) chư Thiên và loài Người.
,3. Ðiểm này, này Nandaka, Ta biết chứ không phải nhờ nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào rồi Ta tuyên bố. Chính do tự Ta biết, tự Ta thấy, tự Ta ý thức rồi Ta tuyên bố.
[3]
,- Khi được nghe nói vậy, một người thưa với Nandaka, vị đại thần người Licchavi:
,- Thưa Ðại quan, nay đã đến giờ tắm.
,- Thôi, nay đã vừa rồi, này Bạn, đó chỉ là sự tắm rửa bề ngoài. Tắm rửa bên trong này là vừa đủ cho ta, tức là lòng tịnh tín đối với Thế Tôn.

PHẨM IV
(Phước Ðức Sung Mãn-I)

,(1)
,Sung Mãn (1)
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,- Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này.
,Thế nào là bốn?
,1- Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng...Phật, Thế Tôn".
,- Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ nhất.
,2. Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp:
,- "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình giác hiểu".
,Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ hai.
,3. Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng:
,- "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời".
,Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ ba.
,4. Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,- Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
,Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

,(2)
,Sung Mãn (2)
,...
,1-3: ... (giống như kinh trên) ...
,4- Lại nữa, vị Thánh đệ tử trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí.
,Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
,Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

,(3)
,Sung Mãn (3)
,...
,1-3:... (giống như kinh trên) ...
,4- Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
,Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
,- Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

,(4)
,Con Ðường Của Chư Thiên (1)
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,- Có bốn thiên đạo này của chư Thiên, này các Tỷ-kheo, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
,Thế nào là bốn?
,1- Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín đối với đức Phật...
,Ðây là thiên đạo thứ nhất của chư Thiên, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
,2-4:... (Như trên đối với Pháp, với chúng Tăng, với các giới)
,- Ðây là thiên đạo thứ tư của chư Thiên, khiến chúng... được thuần bạch.
,Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư Thiên, khiến chúng sanh... được thuần bạch.

,(5)
,Con Ðường Của Chư Thiên (2)
,- Có bốn thiên đạo của chư Thiên này, này các Tỷ-kheo, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
,- Thế nào là bốn?
,1. Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn".
,- Vị ấy suy tư như sau:
,- "Thế nào là thiên đạo của chư Thiên? Nói rằng không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai, các chúng sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật vậy, ta sống thành tựu pháp của thiên đạo".
,Ðây là thiên đạo thứ nhất của chư Thiên khiến các loài chúng sanh... được thuần bạch.
,2. Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Vị ấy suy tư như sau:
,- "Thế nào là thiên đạo của chư Thiên?".
,Vị ấy rõ biết như sau:
,- "Ta nghe các chư Thiên nói rằng không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai, các chúng sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật vậy, ta sống thành tựu pháp của thiên đạo".
,Ðây là thiên đạo thứ tư của chư Thiên, khiến các chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến các chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
,- Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư Thiên, khiến chúng sanh... được thuần bạch.

,(6)
,Ði Ðến Bạn Bè
,- Chư Thiên, này các Tỷ-kheo, hoan hỷ nói chuyện bạn bè với ai thành tựu bốn pháp.
,Thế nào là bốn?
,1- Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,Chư Thiên nào thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được sanh ở đây. Chư Thiên ấy suy nghĩ:
,- "Như chúng ta thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, mệnh chung chỗ kia, được sanh chỗ này".
,Vị Thánh đệ tử cũng thành tựu lòng tịnh tín bất động như vậy.
,Họ nói với vị ấy:
,- "Hãy đến đây, đến gần chư Thiên".
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4. Vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Chư Thiên nào thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được tái sanh chỗ kia.
,Họ suy nghĩ như sau:
,- "Chúng ta thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính. Do vậy, chúng ta mệnh chung tại chỗ kia, sanh tại chỗ này".
,Vị Thánh đệ tử cũng thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính như vậy.
,- Họ nói với vị ấy:
,- "Hãy đến đây, đến gần với chư Thiên".
,- Những ai thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, chư Thiên hoan hỷ nói chuyện bạn bè với họ.

,(7)
,Mahànàma
,Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn cây bàng.
,Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến... ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:
,1- Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ?
,- Ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng.
,Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ.
,2- Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ giới?
,- Này Mahànàma, người cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.
,Cho đến như vậy, là người cư sĩ đầy đủ giới.
,3- Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ tín?
,- Ở đây, người cư sĩ có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ tín.
,4- Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn là người cư sĩ đầy đủ lòng bố thí?
,- Ở đây, người cư sĩ trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích chú chia xẻ vật bố thí.
,- Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ bố thí.
,5. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ?
,- Ở đây, người cư sĩ có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
,Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ.

,(8)
,Mưa
,- Ví như, khi trên đầu núi có cơn mưa to lớn, nước mưa ấy chảy theo hướng xuôi của nó, tràn đầy các hang núi, khe núi; sau khi tràn đầy các hang núi, khe núi, nó tràn đầy hồ nhỏ; sau khi tràn đầy hồ nhỏ, nó tràn đầy hồ lớn; sau khi tràn đầy hồ lớn, nó tràn đầy sông nhỏ; sau khi tràn đầy sông nhỏ, nó tràn đây sông lớn; sau khi tràn đầy sông lớn, nó tràn đầy biển, đại dương.
,Cũng vậy, đối với vị Thánh đệ tử, lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, và các giới được các bậc Thánh ái kính; những pháp này trôi chảy đến bờ bên kia, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.


,(9)
,Kàli
,Lúc bấy giờ Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Cây Bàng.
,Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của Thích nữ Kàligodhà; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
,Rồi Thích nữ Kàligodhà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Thích nữ Kàligodhà:
[1]
,- Thành tựu bốn pháp, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,Thế nào là bốn?
,1. Ở đây, vị nữ Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn".
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4. Vị này trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí.
,- Này Godhà, thành tựu bốn pháp này, một nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
[2]
,1- Bốn Dự lưu phần được Thế Tôn thuyết giảng này, bạch Thế Tôn, chúng đều có trong con. Con thực hiện những pháp này.
,- Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật, Như Lai... đối với Pháp... đối với chúng Tăng...
,Phàm những vật gì được đem bố thí trong gia đình, tất cả đều được phân phát cho những người có giới và những người làm thiện.
,2- Lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Thật khéo lợi đắc thay cho Người, này Godhà!
,Này Godhà, Người đã tuyên bố về Dự lưu quả.

,(10)
,Nandiyà
,Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn Cây Bàng.
,Rồi họ Thích Nandiyà đi đến Thế Tôn; sau khi đến... ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiyà bạch Thế Tôn:
,[I]
,1- Với vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, có thể được gọi là trú phóng dật không?
,2- Này Nandiyà, với ai toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; người ấy, Ta tuyên bố là người đứng ngoài, trong hàng ngũ kẻ phàm phu.
,3. Tuy vậy, này Nandiyà, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào một Thánh đệ tử trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Họ Thích Nandiyà vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
,[II]
[1]
,- Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú phóng dật?
,1. Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,Vị ấy thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động đối với Phật, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh.
,- Do vị ấy sống phóng dật như vậy, nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ.
,Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật.
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4... vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Vị này thỏa mãn với những giới được các bậc Thánh ái kính, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh.
,Do vị ấy trú phóng dật như vậy nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không có khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ.
,Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật.
[2]
,Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật?
,1. Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn".
,Vị này không thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động ấy, cố gắng hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh.
,Do vị ấy sống không phóng dật, nên hân hoan khởi. Do vị ấy hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân khinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra.
,Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật.
,2... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4... vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Vị ấy không thỏa mãn với các giới được các bậc Thánh ái kính, cố gắng tinh tấn hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh.
,Do vị ấy sống không phóng dật như vậy, hân hoan sanh. Vị ấy có hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân kinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra.
,- Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật.
,Như vậy, này Nandiyà, là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật.


PHẨM V
(Phước Ðức Sung Mãn-II)

,(1)
,Sung Mãn (1)
[1]
,- Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này.
,Thế nào là bốn?
,1. Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ nhất.
,2. Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp...
,3... đối với Tăng...
,4... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
,Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
[2]
,1- Với vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, này các Tỷ-kheo, thật không dễ đếm được vô lượng phước đức:
,- "Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc".
,Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.
,2- Cũng vậy, thật không dễ đếm được số lượng nước trong biển lớn là có bao nhiêu thùng, hay có bao nhiêu trăm thùng, hay có bao nhiêu trăm ngàn thùng. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng nước lớn tụ tập.
,Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, thật không dễ gì đếm được số lượng phước đức:
,- "Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc".
,Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.
,3- Thế Tôn nói như vầy:
,Là đại dương, đại hải,
,Nước mênh mông rộng lớn,
,Ðầy rẫy những hãi hùng,
,Chứa vô lượng trân châu,
,Phục vụ trăm ngàn người,
,Các con sông lớn, nhỏ,
,Chúng tuôn chảy ồ ạt,
,Chúng đổ về bể khơi.
,Cũng vậy là những người,
,Thí đồ ăn, uống, vải,
,Bố thí giường, chỗ ngồi,
,Mền, nệm, các đồ nằm,
,Vô lượng nguồn phước đức,
,Từ kẻ trí tuôn chảy,
,Như sông hồ đầy nước,
,Chảy tuôn ra bể cả.

,(2)
,Sung Mãn (2)
[1]
,- Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này.
,Thế nào là bốn?
,1- Ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí.
,-Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
[2]
, ... (Như đoạn số [2] kinh trên) ...
[3]
,1- Ví như, tại chỗ mà các con sông lớn này gặp nhau, nhập vào một dòng với nhau, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravati, sông Sarabhuu, sông Mahi, thật không dễ gì đếm được số lượng nước tại chỗ ấy là có bao nhiêu thùng, bao nhiêu trăm thùng, bao nhiêu trăm ngàn thùng. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng nước lớn tụ tập... đại uẩn phước đức.
,2- Thế Tôn nói như vầy:
,... (giống như hai bài kệ kinh trên) ...

,(3)
,Sung Mãn (3)
[1]
,...
,1,2,3:... (đoạn đầu giống kinh trên về đối với Phật, Pháp, Tăng)...
,4... có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
,- Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
[2] ,[3]:
,... (Như kinh trước) ...
,- Thế Tôn thuyết như vầy:
,Ai ước muốn phước đức,
,Vững trú trên điều thiện,
,Tu tập theo con đường,
,Ðưa đến đạt bất tử,
,Chứng được lõi của pháp,
,Thích thú đoạn lậu hoặc,
,Vị ấy không run sợ,
,Khi nghĩ đến thần chết.

,(4)
,Rất Giàu hay Giàu (1)
,- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn.
,- Thế nào là bốn?
,1-4: ... (Như các kinh trước, nói về tịnh tín bất động đối với ba ngôi báu và các giới) ...
,Thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn.

,(5)
,Rất Giàu hay Giàu (2)
,... (Tương tự giống như kinh trước) ...

,(6)
,Dự Lưu
,- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,Thế nào là bốn?
,1-4: ... (Như các kinh trước, nói về tịnh tín đối với ba ngôi báu và các giới) ...
,Thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

,(7-9)
,[Lược]

,(10)
,Dự Lưu Phần
,- Có bốn Dự lưu phần này.
,- Thế nào là bốn?
,Thân cận bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp và tùy pháp.
,- Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn Dự lưu phần.


PHẨM VI
(Với Trí Tuệ)

,(1)
,Với Bài Kệ
,1- Thành tựu bốn pháp, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
,- Thế nào là bốn?
,... (Như các kinh trước, tịnh tín Ba Ngôi báu và thành tựu các giới) ...
,Này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu... giác ngộ.
,2- Thế Tôn nói như vậy...
,Với ai tin Như Lai,
,Bất động, khéo an trú,
,Với ai giới thiện lành,
,Bậc Thánh kính, tán thán.
,Với ai tịnh tín Tăng,
,Với tri kiến chánh trực,
,Ðược nói: không phải nghèo,
,Sống vậy không vô ích.
,Do vậy, bậc Hiền minh,
,Cần tu tập tín giới,
,Thấy rõ được Chánh pháp,
,Không quên lời Phật dạy.

,(2)
,An Cư Mùa Mưa
,Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika.
,Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa ở Sàvatthi xong, đi đến Kapilavatthu vì một vài công việc.
,Các họ Thích ở Kapilavatthu được nghe một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa xong ở Sàvatthi, đã đến Kapilavatthu. Rồi các họ Thích ở Kapilavatthu đi đến Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên.
[1]
,Các họ Thích ở Kapilavatthu thưa với Tỷ-kheo ấy:
,- Thưa Tôn giả, Thế Tôn có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?
,- Này chư Hiền, Thế Tôn có sức khỏe, có khỏe mạnh.
,- Thưa Tôn giả, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggallàna có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?
,- Này chư Hiền, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna có sức khỏe, có khỏe mạnh.
,- Thưa Tôn giả, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?
,- Này chư Hiền, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe, có khỏe mạnh.
[2]
,- Thưa Tôn giả, trong dịp an cư này, Tôn giả có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ gì từ Thế Tôn?
,- Này chư Hiền, tôi có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau:
,1- "Thật là ít, là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Và nhiều hơn là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa".
,- Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau:
,2- "Thật là ít, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau".
,Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau:
,3- "Thật là ít, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, thành bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ".

,(3)
,Dhammadinna
,Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, ở vườn nai.
,Rồi cư sĩ Dhammadinna với năm trăm cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; cư sĩ Dhammadinna bạch Thế Tôn:
[1]
,1- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho chúng con. Thế Tôn hãy giáo giới cho chúng con! Nhờ vậy chúng con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
,2- Nếu vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập như sau:
,- Các kinh điển nào do Như Lai thuyết giảng thâm sâu, nghĩa lý thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, cần phải thường thường được tìm đến và an trú (học hỏi).

,Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.
,3- Bạch Thế Tôn, thật không dễ gì cho chúng con, phải sống trong những ngôi nhà đầy những trẻ con, sử dụng hương chiên-đàn từ Kàsi, đeo các vòng hoa, hương và phấn sáp, thọ dụng vàng và bạc, đối với các kinh điển do Thế Tôn thuyết giảng thâm sâu, với ý nghĩa thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, có thể thường thường tìm đến những kinh điển ấy và học hỏi.
,- Bạch Thế Tôn, chúng con là những người an trú trên năm học pháp, Thế Tôn hãy giảng cho chúng con các pháp khác!
[2]
,- Do vậy, này Dhammadinna, các Ông hãy học tập như sau:
,1- "Chúng ta sẽ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,2 ... đối với Pháp...
,3... đối với chúng Tăng...
,4... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,- Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.
[3]
,1- Bạch Thế Tôn, bốn Dự lưu phần này được Thế Tôn thuyết giảng, các pháp ấy có mặt ở nơi chúng con. Chúng con thực hiện các pháp ấy.
,- Bạch Thế Tôn, chúng con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp.... đối với chúng Tăng... chúng con thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,2- Lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Thật khéo lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna!
,Này Dhammadinna, Ông đã tuyên bố về Dự lưu quả.

,(4)
,Bị Bệnh
,Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng họ Thích, tại Kapilavatthu, khu vườn các cây bàng.
,Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành.
,Họ Thích Mahànàma được nghe:
,- "Nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: "Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành"".
,- Rồi họ Thích Mahànàma đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Mahànàma bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, con được nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng:
,- "Sau khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi du hành".

,- Chúng con chưa được tự thân nghe từ Thế Tôn, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn điều này. Bạch Thế Tôn, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được một cư sĩ có trí giáo giới như thế nào?
,- Này Mahànàma!
,- Một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được an ủi với bốn pháp an ủi như sau (assàsaniya dhamma):
[1]
,1. Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với đức Phật:
,- "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
,2. Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với Pháp...
,3. Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của của Tôn giả đối với chúng Tăng...
,4. Tôn giả hãy yên tâm, với các giới của Tôn giả được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
,- Một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, phải được một cư sĩ có trí giáo giới với bốn pháp an ủi này. Cần phải nói như vậy.
[2]
,1. Tôn giả ấy có lòng thương nhớ cha mẹ. Nếu vị ấy nói:
,- "Tôi còn có lòng thương nhớ cha mẹ",
thời nên nói với vị ấy như sau:
,2- "Thưa Tôn giả, Tôn giả thế nào cũng phải chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với cha mẹ của Tôn giả".
,- Nếu vị ấy nói như sau:
,- "Lòng thương nhớ của tôi đối với cha mẹ, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận",
vị ấy cần phải được nói như sau:
,3- "Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con hay không?"
,Nếu vị ấy nói:
,- "Tôi có lòng thương nhớ vợ con",
thời vị ấy cần phải được nói như sau:
,4- "Tôn giả thế nào cũng chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với vợ con của Tôn giả".
,Nếu vị ấy nói như sau:
,- "Lòng thương nhớ của tôi đối với vợ con, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận",
vị ấy cần phải được nói như sau:
,5- "Tôn giả có lòng thương tiếc năm dục công đức của loài Người không?"
,Nếu vị ấy nói như sau:
,- "Tôi có lòng thương nhớ năm dục công đức của loài Người",
vị ấy cần phải được nói như sau:
,6- "Các Thiên dục đối với nhân dục, còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn. Vậy tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi các nhân dục, và hướng tâm đến Tứ đại thiên vương thiên".
,Nếu vị ấy nói như sau:
,- "Tâm tôi đã từ bỏ nhân dục và hướng đến Tứ đại thiên vương thiên",
vị ấy cần được nói như sau:
,7- "Chư Thiên ở cõi Ba mươi ba còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn Tứ đại thiên vương thiên. Tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Tứ đại thiên vương thiên và hướng tâm đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba".
,Nếu vị ấy nói như sau:
,- "Tâm tôi đã từ bỏ Tứ đại thiên vương thiên và hướng đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba",
vị ấy cần được nói như sau:
,8- "Chư Thiên Yamà, chư Thiên Tusità, chư Thiên Hóa lạc thiên, chư Thiên Tha hóa tự tại thiên còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba".
,9... "Chư Thiên ở Phạm thế còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tốt hơn Tôn giả từ bỏ tâm khỏi chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm đến Phạm thế, Phạm thiên giới".
,- Nếu vị ấy nói như sau:
,- "Tâm tôi đã từ bỏ chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm về chư Thiên ở Phạm thế",
thời vị ấy cần phải được nói như sau:
,10- "Này Tôn giả, Phạm thiên giới là vô thường, không thường hằng, bị thân kiến giới hạn. Tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Phạm thế và hướng tâm đến đoạn diệt thân kiến (Sakkàya)".
,Nếu vị ấy nói như sau:
,- "Tâm tôi đã từ bỏ Phạm thế và hướng đến đoạn diệt thân kiến";
,vị cư sĩ nói như vậy, và với Tỷ-kheo có tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, Ta nói rằng không có gì sai biệt, tức là về phương diện giải thoát.


,(5)
,Bốn Quả (1)
,- Có bốn pháp, được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến chứng ngộ quả Dự lưu.
,Thế nào là bốn?
,Thân cận với bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hiện pháp và tùy pháp.
,Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả Dự lưu.

,(6)
,Bốn Quả (2)
, ... (Như kinh trên, chỉ khác, đây đưa đến chứng ngộ quả Nhất lai).

,(7)
,Bốn Quả (3)
,... (Như kinh trên, chỉ khác, đây đưa đến quả Nhất lai).

,(8)
,Bốn Quả (4)
, ... (Như kinh trên, chỉ khác, đây đưa đến quả A-la-hán).

,(9)
,Lợi Ðắc
, ... đưa đến lợi đắc trí tuệ...

PHẨM VII
(Ðại Trí Tuệ)

,(1)
,Ðại
, ... đưa đến đại trí tuệ...

,(2)
,Quảng Ðại (Puthu)
,... đưa đến quảng đại trí tuệ...

,(3)
,Tăng Trưởng (Vipula)
, ... đưa đến tăng trưởng trí tuệ...

,(4)
,Thâm Sâu
, ... đưa đến trí tuệ thâm sâu...

,(5)
,Không Có Ngang Bằng (Asamatta)
,... đưa đến trí tuệ không có ngang bằng...

,(6)
,Sung Mãn (Bhuuri)
,... đưa đến trí tuệ sung mãn...

,(7)
,Nhiều
, ... đưa đến trí tuệ sung túc...

,(8)
,Nhanh Lẹ (Sìgha)
,... đưa đến trí tuệ nhanh nhẹn...

,(9)
,Khinh An
,... đưa đến trí tuệ khinh an...

,(10)
,Hoan Hỷ (Hàsa)
,... đưa đến trí tuệ hoan hỷ...

,(11)
,Tốc Hành
,... đưa đến trí tuệ tốc hành...

,(12)
,Sắc Bén
, ... đưa đến trí tuệ sắc bén...

,(13)
,Thể Nhập (Nibbedhika)
, ... đưa đến trí tuệ thể nhập...
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục