[Các Liên Kết]

MỤC LỤC: KINH TẠNG
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-1. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯƠNG ƯNG BỘ-1. Hiển thị tất cả bài đăng

TƯƠNG ƯNG SAKKA

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 1

[Thiên có Kệ]
Chương 11
TƯƠNG ƯNG SAKKA

———————————————————————————————
PHẨM I
(Thứ Nhất)

,(1)
Suvìra
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo.
,- Bạch Thế Tôn.
,Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
,1- Thuở xưa, các Asùra (A-tu-la) tấn công Thiên chủ. Rồi Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Suvìra:
,- «Này Suvìra thân yêu, các Asùra ấy tấn công chư Thiên. Này Suvìra thân yêu, hãy đi nghênh đánh các Asùra".
,- Thưa vâng, Tôn giả.
,Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suvìra vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
,Lần thứ hai, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Suvìra:
,- «Này Suvìra thân yêu, các Asùra ấy tấn công chư Thiên. Này Suvìra thân yêu, hãy đi nghênh đánh các Asùra".
,- Thưa vâng, Tôn giả.
,Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suvìra vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
,Lần thứ ba, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Suvìra:
,- «Này Suvìra thân yêu, các Asùra ấy tấn công chư Thiên. Này Suvìra thân yêu, hãy đi nghênh đánh các Asùra."
,- Thưa vâng, Tôn giả.
,Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suvìra vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật không chịu làm gì.
,2. Rồi Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thiên tử Suvìra:
,Không nỗ lực, tinh cần,
,Vẫn đạt được an lạc,
,Suvìra hãy đi,
,Giúp ta đạt pháp ấy.
,(Suvìra):
,Kẻ nhác, không nỗ lực,
,Và không làm việc gì,
,Mọi ước vọng thành đạt,
,Hướng tối thượng là gì?
,(Này Sakka).
,(Sakka):
,Kẻ nhác, không nỗ lực,
,Chứng được tối hậu lạc.
,Suvìra hãy đi,
,Giúp ta đạt pháp ấy.
,(Suvìra):
,Này Thiên chủ Sakka,
,Không làm, chứng lạc ấy,
,Không sầu, không nhiệt não,
,Hướng tối thượng là gì?
,(Này Sakka).
,(Sakka):
,Nếu không có làm gì,
,Thời không có tái sanh,
,Ðường ấy hướng Niết-bàn.
,Suvìra, hãy đi,
,Giúp ta đạt pháp ấy.
,3. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy, sống nhờ quả công đức của mình, trị vì và cai trị chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sẽ là người tán thán nỗ lực và tinh tấn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông làm cho sáng chói, vị ấy khi các Ông xuất gia trong pháp luật khéo thuyết như vậy, nỗ lực, tinh cần hay tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ.

,(2)
Susìma
,Trú ở Sàvatthi, tại Jetavana. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo.
,- Bạch Thế Tôn.
,Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
,1. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa các A-tu-la tấn công chư Thiên. Rồi Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Susìma:
,- «Này Susìma thân yêu, các A-tu-la ấy tấn công chư Thiên. Này Susìma thân yêu, hãy đi nghênh đánh các A-tu-la."
,- «Thưa vâng, Tôn giả."
,Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Susìma vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
,Lần thứ hai, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Susìma... nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
,Lần thứ ba, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Susìma... nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
,2. Rồi Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thiên tử Susìma:
,Không nỗ lực tinh cần,
,Vẫn đạt được an lạc,
,Susìma hãy đi,
,Giúp ta đạt pháp ấy.
,(Susìma):
,Kẻ nhác không nỗ lực,
,Và không làm được gì,
,Mọi dục (Kàma) đều thành đạt,
,Hướng tối thượng là gì?
,(Này Sakka)
,(Sakka):
,Kẻ nhác không nỗ lực,
,Chứng được tối hậu lạc,
,Susìma hãy đi,
,Giúp ta đạt pháp ấy.
,(Susìma):
,Này Thiên chủ Sakka,
,Không làm, chứng lạc ấy,
,Không sầu, không nhiệt não,
,Hướng tối thượng là gì?
,(Này Sakka).
,(Sakka):
,Nếu không có làm gì,
,Thời không có tái sanh,
,Ðường ấy hướng Niết-bàn,
,Susìma, hãy đi,
,Giúp ta đạt quả ấy.
,3. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy, sống nhờ quả công đức của mình, trị vì và cai trị chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sẽ là người tán thán, nỗ lực và tinh tấn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông làm cho sáng chói vị ấy khi các Ông xuất gia trong pháp luật khéo thuyết như vậy, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng những gì chưa chứng, để ngộ những gì chưa ngộ.

,(3)
Dhajaggam-Ðầu Lá Cờ
,Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo.
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
,1- Thuở xưa, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra. Rồi Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
,- «Này thân hữu, khi các Ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.
,Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.
,Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ tiêu diệt.
,Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt."
,2. Này các Tỷ-kheo, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.
,Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.
,3. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói như sau:
,- Này các Tỷ-kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta:
,- "Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn".
,Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.
,Nếu các Ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp:
,- "Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu."
,Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
,Nếu các Ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng:
,- "Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời."
,Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

,Vì sao? Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.
,4. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói tiếp:
,Này các vị Tỷ-kheo,
,Trong rừng hay gốc cây,
,Hay tại căn nhà trống,
,Hãy niệm bậc Chánh Giác.
,Các Ông có sợ hãi,
,Sợ hãi sẽ tiêu diệt.
,Nếu không tư niệm Phật,
,Tối thượng chủ ở đời,
,Và cũng là Ngưu vương,
,Trong thế giới loài Người,
,Vậy hãy tư niệm Pháp,
,Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.
,Nếu không tư niệm Pháp,
,Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,
,Vậy hãy tư niệm Tăng,
,Là phước điền vô thượng.
,Vậy này các Tỷ-kheo,
,Như vậy tư niệm Phật,
,Tư niệm Pháp và Tăng,
,Sợ hãi hay hoảng hốt,
,Hay lông tóc dựng ngược,
,Không bao giờ khởi lên.

,(4)
Vepacitti hay Kham Nhẫn
,Tại Sàvatthi, Jetavana... (như trên)...
,Thế Tôn thuyết như sau:
,1- Thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các Asura, rất là khốc liệt.
,Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la gọi các A-tu-la:
,- «Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la, rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka (hai tay, hai chân) và thứ năm là cổ và dắt vị ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la."
,Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
,- «Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói Vepacitti, vua các A-tu-la hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vị ấy lên trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)".
,2. Nhưng trong trận chiến ấy chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi chư Thiên ở Tam thập tam thiên trói A-tu-la vương Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka, trong giảng đường Sudhamma.
,Tại đây, vua các A-tu-la, Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, khi Thiên chủ Sakka đi vào và đi ra khỏi giảng đường Sudhamma, nhiếc mắng, mạ lị Thiên chủ Sakka với những lời thô ác, độc ngữ.
,3. Rồi người đánh xe Màtali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
,Này Thiên chủ Sakka,
,Có phải là Ông sợ,
,Hay vì Ông yếu hèn,
,Nên mới phải kham nhẫn,
,Khi Ông nghe ác ngữ,
,Từ Vepacitti?
,(Sakka):
,Không phải vì sợ hãi,
,Không phải vì yếu hèn,
,Mà ta phải kham nhẫn,
,Với Vepacitti.
,Sao kẻ trí như ta,
,Lại liên hệ người ngu?
,(Màtali):
,Kẻ ngu càng nổi khùng,
,Nếu không người đối trị,
,Vậy với hình phạt nặng,
,Kẻ trí trị người ngu.
,(Sakka):
,Như vậy theo ta nghĩ,
,Chỉ đối trị người ngu,
,Biết kẻ khác phẫn nộ,
,Giữ niệm tâm an tịnh.
,(Màtali):
,Hỡi này Vàsana,
,Sự kham nhẫn như vậy,
,Ta thấy là lỗi lầm,
,Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
,"Vì sợ ta, nó nhẫn"
,Kẻ ngu càng hăng tiết,
,Như bò thấy người chạy,
,Càng hung hăng đuổi dài.
,(Sakka):
,Hãy để nó suy nghĩ,
,Như ý nó mong muốn,
,Nghĩ rằng, ta kham nhẫn,
,Vì ta sợ hãi nó.
,Trong tư lợi tối thượng,
,Không gì hơn kham nhẫn.
,Người đầy đủ sức mạnh,
,Chịu nhẫn người yếu kém,
,Nhẫn ấy gọi tối thượng,
,Thường nhẫn kẻ yếu hèn.
,Sức mạnh của kẻ ngu,
,Ðược xem là sức mạnh,
,Thời sức mạnh kẻ mạnh,
,Lại được gọi yếu hèn.
,Người mạnh hộ trì pháp,
,Không nói lời phản ứng,
,Bị mắng nhiếc, mắng lại,
,Ác hại nặng nề hơn.
,Bị mắng, không mắng lại,
,Ðược chiến thắng hai lần.
,Sống lợi ích cả hai,
,Lợi mình và lợi người,
,Biết kẻ khác tức giận,
,Giữ niệm, tâm an tịnh,
,Là y sĩ cả hai,
,Chữa mình và chữa người,
,Quần chúng nghĩ là ngu,
,Vì không giỏi Chánh pháp.

,4. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy đã tự nuôi sống với quả công đức của mình, đã ngự trị và cai trị chư Thiên Tam thập tam thiên, sẽ nói lời tán thán nhẫn nhục và nhu hòa. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy làm chói sáng pháp luật này bằng cách trong khi xuất gia trong pháp và luật khéo giảng này, hãy thật hành kham nhẫn và nhu hòa.

,(5)
Thắng Lợi Nhờ Thiện Ngữ
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,1- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, một trận chiến kịch liệt xảy ra giữa chư Thiên và các Asura.
,Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
,- «Này Thiên chủ, hãy chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng."
,- «Này Vepacitti, ta chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng."
,2. Rồi chư Thiên và các Asura sắp các hội chúng và nói:
,- «Hội chúng này sẽ phán đoán ai khéo nói, ai không khéo nói."
,Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
,- «Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ".
,Ðược nói vậy,Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
,- «Này Vepacitti, ở đây, Ông là vị Thiên lớn tuổi hơn. Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ".
,3. Khi được nói vậy, vua các A-tu-la, Vepacitti nói lên bài kệ này:
,Kẻ ngu càng nổi khùng
,Nếu không người đối trị,
,Vậy với hình phạt nặng,
,Kẻ trí trị người ngu.
,Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la. Còn chư Thiên thời im lặng.
,Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
,- «Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ".
,Khi được nói vậy, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
,Như vậy theo ta nghĩ,
,Chỉ chế ngự người ngu,
,Biết kẻ khác phẫn nộ,
,Giữ niệm, tâm an tịnh.
,Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
,Rồi Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
,- «Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ"
,5. (Vepacitti):
,Hỡi này Vàsava,
,Sự kham nhẫn như vậy,
,Ta thấy là lầm lỗi,
,Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
,"Vì sợ ta, nó nhẫn".
,Kẻ ngu càng hăng tiết,
,Như bò thấy người chạy,
,Càng hung hăng đuổi dài.
,Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, còn chư Thiên thời im lặng.
,Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
,- «Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ".
,6. Khi được nói vậy, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
,Hãy để nó suy nghĩ,
,Như ý nó mong muốn,
,Nghĩ rằng ta kham nhẫn,
,Vì ta sợ hãi nó.
,Trong tư lợi tối thượng,
,Không gì hơn kham nhẫn.
,Người đầy đủ sức mạnh,
,Chịu nhẫn người yếu kém,
,Nhẫn ấy gọi tối thượng.
,Thường nhẫn kẻ yếu hèn,
,Sức mạnh của kẻ ngu,
,Ðược xem là sức mạnh,
,Thời sức mạnh kẻ mạnh,
,Lại được gọi yếu hèn.
,Người mạnh hộ trì pháp,
,Không nói lời phản ứng.
,Bị mắng, nhiếc mắng lại,
,Sẽ hại nặng nề hơn.
,Bị mắng, không mắng lại,
,Ðược chiến thắng hai lần.
,Sống lợi ích cả hai,
,Lợi mình và lợi người,
,Biết kẻ khác tức giận,
,Giữ niệm, tâm an tịnh,
,Là y sĩ cả hai,
,Chữa mình và chữa người,
,Quần chúng nghĩ là ngu,
,Vì không giỏi Chánh pháp.
,Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
,7. Rồi này các Tỷ-kheo, hội chúng chư Thiên và A-tu-la nói như sau:
,- "Những bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, nói lên là những lời bạo lực, những lời đao kiếm, đưa đến đấu tranh, bất hòa, gây hấn. Còn những bài kệ, Thiên chủ Sakka nói lên là những lời không thuộc bạo lực, những lời không thuộc đao kiếm, không đưa đến đấu tranh, không đưa đến bất hòa, không đưa đến gây hấn, thắng lợi đã về Thiên chủ Sakka, nhờ khéo nói".
,8. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thắng lợi về Thiên chủ Sakka nhờ khéo nói.

,(6)
Tổ Chim
,Nhân duyên ở Sàvatthi.
,- Thuở xưa, giữa chư Thiên và các A-tu-la, xảy ra cuộc chiến rất ác liệt.
,1. Này các Tỷ-kheo, trong cuộc chiến ấy, các A-tu-la thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên bại trận thời lui về phương Bắc, còn các A-tu-la đuổi theo họ.
,Rồi Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với người đánh xe Màtali:
,Hỡi này Màtali,
,Hãy giữ cho gọng xe,
,Tránh khỏi các tổ chim,
,Giữa các cây bông gòn.
,Thà trao mạng sống ta,
,Cho các A-tu-la,
,Còn hơn khiến các chim,
,Trở thành không tổ ấm.
,- «Thưa vâng, Tôn giả".
,Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka, liền đánh xe trở lui, cỗ xe có ngàn con tuấn mã kéo.
,Rồi các A-tu-la suy nghĩ:
,- "Nay cỗ xe có ngàn con tuấn mã kéo của Thiên chủ Sakka đã trở lui. Lần thứ hai, chư Thiên sẽ tiến đánh các A-tu-la".
,Nghĩ vậy, họ sợ hãi lui vào trong thành phố A-tu-la.
,2. Như vậy, Thiên chủ Sakka lại thắng trận, nhờ theo Chánh pháp.

,(7)
Không Gian Trá
,Ở Sàvatthi.
,1- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka trong khi Thiền tịnh độc cư, khởi lên ý nghĩ sau đây:
,- "Dầu ai là kẻ thù của ta. Ðối với họ, ta không có gian trá".
,Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, với tâm của mình biết tâm của Thiên chủ Sakka, liền đi đến Thiên chủ Sakka.
,Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka thấy Vepacitti, vua các A-tu-la, từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với vua A-tu-la:
,- «Hãy đứng lại, này Vepacitti, Ông đã bị bắt".
,- «Này Thân hữu, tâm của Ông trước như thế nào, chớ có bỏ tâm ấy".
,- «Này Vepacitti, Ông có thể thề: ‘Ta không bao giờ gian trá’".
,2. (Vepacitti):
,Ác báo do vọng ngôn,
,Ác báo do báng Thánh,
,Ác báo do phản bạn,
,Ác báo do vong ân.
,Này Sujampati,
,Ai gian trá với Ông,
,Người ấy sẽ thọ lãnh,
,Các quả báo như vậy.

,(8)
Vua A-Tu-La Verocana hay Mục Ðích
,Nhân duyên ở Sàtthi. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang nghỉ trưa và ngồi Thiền tịnh.
,Rồi Thiên chủ Sakka và A-tu-la vương Verocana, vua các A-tu-la, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng, mỗi người dựa vào một cột cửa.
,Rồi A-tu-la Verocana, vua các A-tu-la, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
,Mọi người phải tinh tấn,
,Cho đến đích thành tựu.
,Khi mục đích thành tựu,
,Thời chiếu diệu chói sáng,
,Chính Verocana,
,Ðã nói lời như vậy.
,(Sakka):
,Mọi người phải tinh tấn,
,Cho đến đích thành tựu.
,Khi mục đích thành tựu,
,Thời chiếu diệu chói sáng,
,Không gì tốt đẹp hơn,
,So sánh với kham nhẫn.
,(Verocana):
,Tất cả loại chúng sanh,
,Tự có mục đích mình,
,Tại chỗ này, chỗ kia,
,Tùy theo sự thích ứng.
,Món ăn khéo chế biến,
,Làm thỏa mãn mọi loài,
,Khi mục đích thành tựu,
,Thời chiếu diệu chói sáng,
,Chính Verocana
,Ðã nói lời như vậy.
,(Sakka):
,Tất cả loại chúng sanh,
,Tự có mục đích mình,
,Tại chỗ này, chỗ kia,
,Tùy theo sự thích ứng.
,Món ăn khéo chế biến,
,Làm thỏa mãn mọi loài,
,Khi mục đích thành tựu,
,Thời chiếu diệu chói sáng,
,Không gì tốt đẹp hơn,
,So sánh với kham nhẫn.

,(9)
Các Ẩn Sĩ Ở Rừng hay Hương
,Ở Sàvatthi.
,1- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có nhiều ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau trong những chòi lá trong rừng.
,Rồi Thiên chủ Sakka và Vepacitti, vua các A-tu-la, đi đến các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
,Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, sau khi mang giày ống (hia), cầm đao kiếm, có lọng che, đi vào am thất bằng cửa chính, miệt thị và phạm thượng các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
,Này các Tỷ-kheo, còn Thiên chủ Sakka thời cởi giày ống, giao kiếm cho người khác, xếp lọng, đi vào am thất bằng cửa phụ, đứng phía sau các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, chấp tay vái chào.
,2. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với Thiên chủ Sakka:
,Mùi hương các ẩn sĩ,
,Ðã lâu ngày tu hành,
,Xuất phát từ thân họ,
,Ðược gió thổi mang đi,
,Từ đó thổi đến người.
,Ôi vị có ngàn mắt,
,Mùi hương các ẩn sĩ,
,Không được cho thanh tịnh,
,Này vị vua chư Thiên.
,(Sakka):
,Mùi hương các ẩn sĩ,
,Ðã lâu ngày tu hành,
,Xuất phát từ thân họ,
,Hãy được gió mang đi,
,Như vòng hoa nhiều loại,
,Ðược trang sức trên đầu.
,Chư Tôn giả, chúng tôi,
,Ước mong được hương ấy,
,Không gì ở nơi đây,
,Làm chư Thiên ghê tởm.

,(10)
Ẩn Sĩ Ở Bờ Biển hay Sambara
,Ở Sàvatthi.
,Thuở xưa, có nhiều vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau ở trong những chòi lá, trên bờ biển. Lúc bấy giờ, một trận chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất ác liệt.
,1. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy suy nghĩ như sau:
,- "Chư Thiên sống như pháp, các A-tu-la sống phi pháp. Chúng ta có thể nguy hiểm từ phía A-tu-la. Vậy chúng ta hãy đi đến A-tu-la vương Sambara và xin được bảo đảm vô úy".
,Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất trong các chòi lá trên bờ biển và hiện ra trước mặt A-tu-la vương Sambara.
,2. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với A-tu-la vương Sambara:
,Các ẩn sĩ chúng tôi,
,Ðến với Sambara,
,Ðể xin Ngài bảo đảm,
,Thí cho sự vô úy.
,Hãy làm như Ngài muốn,
,Hãy thí cho chúng tôi,
,Những người đang sợ hãi,
,Ðược khỏi phải sợ hãi.
,(Sambara):
,Ẩn sĩ như các Ông,
,Không thể có vô úy,
,Ðã phục vụ Sakka,
,Vị trí không tốt lành,
,Các Ông xin vô úy,
,Ta cho sự sợ hãi.
,(Các ẩn sĩ):
,Chúng tôi xin vô úy,
,Ông lại cho sợ hãi,
,Ta nhận vậy từ Ông,
,Trọn đời, Ông sợ hãi!
,Tùy hột giống đã gieo,
,Ông gặt quả như vậy.
,Làm thiện được quả thiện,
,Làm ác bị quả ác,
,Giống đã gieo và trồng,
,Ông sẽ hưởng kết quả.
,3. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, sau khi thốt lời chú nguyện chống A-tu-la vương Sambara, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, liền biến mất trước mặt A-tu-la vương Sambara và hiện ra trong các chòi lá trên bờ biển.
,4. Này các Tỷ-kheo, A-tu-la vương Sambara, bị các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy chú nguyện như vậy, trong đêm ấy thức dậy hoảng hốt ba lần.

PHẨM II
(Thứ Hai)

,(1)
Chư Thiên hay Cấm Giới
,Tại Sàvatthi.
,1- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
,Bảy cấm giới túc là gì?
,- "Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thực. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy".
,Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
,2.
,Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
,Kính trọng bậc gia trưởng,
,Nói những lời nhu hòa,
,Từ bỏ lời hai lưỡi,
,Chế ngự lòng xan tham,
,Là con người chân thực,
,Nhiếp phục được phẫn nộ,
,Với con người như vậy,
,Chư Thiên tam thập tam,
,Gọi là bậc Chơn nhơn.

,(2)
Chư Thiên (1)
,Ở Sàvatthi, Jetavana. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
,1- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà-la-môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
,Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được tên là Purindado.
,Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn (Sakkaccam), do vậy được tên là Sakka.
,Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được tên là Vàsavo.
,Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được tên là Sahassa akkha (ngàn con mắt).
,Này các Tỷ-kheo, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la tên là Sujà, do vậy được tên là Sujampati.
,Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.
,Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
,2. Thế nào là bảy cấm giới túc?
,- "Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy".
,Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
,3.
,Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
,Kính trọng bậc gia trưởng,
,Nói những lời nhu hòa,
,Từ bỏ lời hai lưỡi,
,Chế ngự lòng xan tham,
,Là con người chân thực,
,Nhiếp phục được phẫn nộ,
,Với con người như vậy,
,Chư Thiên tam thập tam,
,Gọi là bậc Chơn nhơn.

,(3)
Chư Thiên (2)
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm tại Trùng Các giảng đường. Rồi Mahàli, người Licchavi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
,1. Mahàli, người Licchavi bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thấy Thiên chủ Sakka không?
,- Này Mahàli, Ta có thấy Thiên chủ Sakka.
,- Bạch Thế Tôn, có thể vị ấy tương tự giống Sakka. Bạch Thế Tôn, thật khó thấy Thiên chủ Sakka.
,2- Này Mahàli, Ta biết Sakka và các pháp tác thành Sakka. Chính do chấp trì các pháp ấy, Sakka được địa vị Sakka. Và Ta biết các pháp ấy.
,Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà la môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
,Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được gọi là Purtindado.
,Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn, do vậy được gọi là Sakka.
,Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được gọi là Vàsavo.
,Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn, suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được gọi là Sahassa akkha (một ngàn con mắt).
,Này Mahàli, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la là Sujà, do vậy được gọi là Sujampati.
,Này Mahàli, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.
,Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc, Sakka được địa vị Sakka.
,3. Thế nào là bảy cấm giới túc?
,- "Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa.Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ; nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ".
,Này Mahali, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
,4.
,Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
,Kính trọng bậc gia trưởng,
,Nói những lời nhu hòa,
,Từ bỏ lời hai lưỡi,
,Chế ngự lòng xan tham,
,Là con người chân thực,
,Nhiếp phục được phẫn nộ,
,Với con người như vậy,
,Chư Thiên tam thập tam,
,Gọi là bậc Chơn nhơn.

,(4)
Người Nghèo
,Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:
,- Này các Tỷ-kheo.
,- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
,Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
,1. Thuở xưa, một người ở tại thành Vương Xá này; người ấy nghèo khó, bần cùng, khốn khổ. Người ấy chấp trì lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ. Người ấy do chấp trì lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh thiện thú, Thiên giới, đời này và cộng trú với chư Thiên Tam thập tam thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư Thiên khác về dung sắc và danh tiếng.
,2. Ở đây, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất:
,- "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thiên tử này thuở xưa làm người nghèo khó, bần cùng, khốn khổ. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, đời này và cộng trú với chư Thiên Tam thập tam thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư Thiên khác về dung sắc và danh tiếng."
,3. Rồi Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
,- "Này chư Thân hữu, chớ có bực tức với vị Thiên tử này. Này chư Thân hữu, vị Thiên tử này trước kia làm người, chấp trì lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ; người ấy do chấp trì lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh thiện thú, Thiên giới, đời này và cộng trú với chư Thiên Tam thập tam thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư Thiên khác về dung sắc và danh xưng" .
,4. Rồi Thiên chủ Sakka để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
,Ai tín thành Như Lai,
,Bất động, khéo an trú,
,Ai giữ giới thuần thiện,
,Ðược bậc Thánh tán thán.
,Ai tín thành chúng Tăng,
,Chơn trực và chánh kiến,
,Ðược gọi: "Không phải nghèo",
,Ðời sống không hư vọng.
,Do vậy người có trí,
,Phải kiên trì Phật giáo,
,Tín thành và trì giới,
,Trí kiến đúng Chánh pháp.

,(5)
Khả Ái, Khả Lạc
,Tại Sàvatthi, Jetavana.
,Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên. Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, địa cảnh nào khả ái, khả lạc?
,(Thế Tôn):
,Các cảnh vườn mỹ diệu,
,Các khu rừng mỹ diệu,
,Các ao sen khéo xây,
,Ðược loài Người khả ái.
,Thật sự chỉ đáng giá,
,Thật là ít, nhỏ nhoi.
,Tại làng hay tại rừng,
,Chỗ đất thấp hay cao,
,Chỗ nào La-hán trú,
,Ðịa cảnh ấy khả ái.

,(6)
Tổ Chức Lễ Tế Ðàn
,Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Rồi Thiên tử Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thế Tôn:
,Loài Người lễ tế đàn,
,Chúng sanh mong công đức.
,Ai làm các công đức,
,Ðưa đến sự tái sanh,
,Chỗ nào sự bố thí,
,Ðược quả báo thật lớn?
,(Thế Tôn):
,Ai thành tựu bốn đạo,
,Ai chứng đắc bốn quả,
,Tăng chúng ấy chơn trực,
,Giới, định, tuệ đầy đủ.
,Loài Người lễ tế đàn,
,Chúng sanh mong công đức.
,Ai làm các công đức,
,Ðưa đến sự tái sanh,
,Bố thí cho chúng Tăng,
,Ðược quả báo thật lớn.

,(7)
Kính Lễ
,Tại Sàvatthi, Jetavana. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang nghỉ trưa Thiền tịnh. Rồi Thiên chủ Sakka và Phạm thiên Sahampati đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi người đứng dựa vào một cột cửa.
,1. Rồi Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
,Ðứng lên bậc Anh hùng,
,Bậc chiến thắng chiến trường,
,Ðã đặt gánh nặng xuống,
,Không mắc nợ một ai,
,Bộ hành khắp thế giới,
,Tâm Ngài khéo giải thoát,
,Chẳng khác gì mặt trăng,
,Trong đêm rằm chói sáng.
,2. Phạm thiên Sahampati:
,Này Thiên chủ, kính lễ Như Lai không phải như vậy. Và này Thiên chủ, kính lễ Như Lai phải như thế này:
,Ðứng lên, bậc Anh hùng,
,Bậc chiến thắng chiến trường,
,Lãnh đạo đoàn lữ hành,
,Không mắc nợ một ai,
,Bộ hành khắp thế giới,
,Thế Tôn hãy thuyết pháp,
,Có những người sẽ hiểu.

,(8)
Sakka Kính Lễ
,Tại Sàvatthi, Jetavana. Ở đây... Thế Tôn nói:
,1- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe như sau:
,- «Này Màtali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh".
,- «Thưa vâng, Tôn giả".
,Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka; sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Thiên chủ Sakka:
,- «Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã thắng vào cỗ xe. Nay Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời!"
,2. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay và đảnh lễ các phương hướng.
,3. Rồi người đánh xe Màtali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
,Bậc Tam minh lễ Ngài,
,Tất cả Sát-đế-lỵ
,Ở trên cõi đất này,
,Cũng đều đảnh lễ Ngài,
,Kể cả bốn Thiên vương,
,Bậc danh xưng Tam thập.
,Dạ-xoa ấy tên gì,
,Vị mà Ngài đảnh lễ,
,Này Sakka?
,(Sakka):
,Bậc Tam minh lễ ta.
,Tất cả Sát-đế-lỵ
,Ở trên cõi đất này,
,Cũng đều đảnh lễ ta,
,Kể cả bốn Thiên vương,
,Bậc danh xưng Tam thập.
,Nhưng ta chỉ đảnh lễ,
,Bậc thành tựu giới, luật,
,Lâu ngày tu Thiền định,
,Chơn chánh hành xuất gia,
,Thành đạt và chứng được
,Cứu cánh chơn Phạm hạnh.
,Ngoài ra các gia chủ,
,Làm công đức, giữ giới,
,Nuôi dưỡng vợ đúng pháp,
,Các cư sĩ như vậy,
,Ta cũng sẽ đảnh lễ,
,Hỡi này Màtali.
,(Màtali):
,Phải, tôi cũng được nghe,
,Ở đời bậc tối thượng,
,Sakka, Ngài đảnh lễ
,Những vị Ngài đảnh lễ,
,Tôi cũng đều đảnh lễ,
,Ôi này Vàsava!
,(Thế Tôn):
,Maghavà nói vậy,
,Vua Sujampati,
,Ðảnh lễ các phương xong,
,Lên xe dẫn đi đầu.

,(9)
Sakka Ðảnh Lễ (1)
,Tại Sàvatthi, Jetavana...
,- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Màtali:
,- «Này Màtali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh".
,- «Thưa vâng, Tôn giả".
,Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka, sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Sakka:
,- "Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã được thắng vào cỗ xe. Nay Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời".
,1. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay kính lễ Thế Tôn.
,2. Rồi Màtali, người đánh xe nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
,Thiên, Nhân kính lễ Ngài,
,Hỡi này Vàsava.
,Dạ-xoa ấy tên gì
,Vị mà Ngài đảnh lễ,
,Này Sakka?
,(Sakka):
,Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác,
,Ðời này với chư Thiên,
,Bậc Ðạo Sư tối thượng,
,Vị ấy ta đảnh lễ,
,Này Màtali!
,Những vị đã đoạn trừ,
,Tham, sân và vô minh,
,Bậc lậu tận, La-hán,
,Vị ấy ta đảnh lễ.
,Bậc điều phục tham sân,
,Vượt khỏi màn vô minh,
,Hoan hỷ đoạn tái sanh,
,Các bậc thuộc hữu học,
,Không phóng dật, tu học,
,Vị ấy ta đảnh lễ,
,Này Màtali.
,(Màtali):
,Phải tôi cũng được nghe,
,Ở đời bậc tối thượng,
,Sakka Ngài đảnh lễ,
,Những vị Ngài đảnh lễ,
,Tôi cũng đều đảnh lễ,
,Ôi này Vàsava.

,Maghavà nói vậy,
,Vua Sujampati,
,Ðảnh lễ Thế Tôn xong,
,Lên xe, dẫn đi đầu.

,(10)
Sakka Ðảnh Lễ (2)
,Tại Sàvatthi, ở Jetavana. Ở đây... Thế Tôn nói như sau:
,- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Màtali:
,- «Này Màtali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh".
,- «Thưa vâng, Tôn giả".
,Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka, sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Thiên chủ Sakka:
,- «Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã được thắng vào cổ xe. Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời".
,1. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka từ cung điện Vejayanta đi xuống, chấp tay đảnh lễ Tỷ-kheo Tăng.
,2. Này các Tỷ-kheo, rồi người đánh xe Màtali nói lên bài kệ với Thiên chủ Sakka:
,Chắc họ đảnh lễ Ngài,
,Những người thân bất tịnh,
,Chìm sâu trong thi thể,
,Bị đói khát dày vò,
,Có gì họ ưa thích,
,Ðối những vị xuất gia,
,Hãy nói cho được biết,
,Sở hành các ẩn sĩ,
,Nhờ vậy chúng tôi nghe
,Ðược tiếng nói của Ngài,
,Hỡi này Vàsava!
,(Sakka):
,Ðối với xuất gia ấy,
,Ðiều khiến ta ưa thích,
,Khi họ từ làng về,
,Họ đi không tham vọng,
,Vựa lúa, không cất chứa,
,Không ghè, không nồi niêu,
,Những gì họ tìm kiếm,
,Có người khác sẵn sàng.
,Do vậy, họ nuôi sống,
,Theo cung cách tốt đẹp.
,Họ là bậc Hiền trí,
,Khuyên nhủ lời tốt đẹp.
,Hay họ giữ im lặng,
,Trong tư thế trầm tĩnh.
,Chư thiên chiến Tu-la,
,Loài Người cũng gây chiến.
,Hỡi này Màtali!
,Không chiến giữa gây chiến,
,Trầm tĩnh giữa đao gậy,
,Không chấp giữa chấp trước.
,Vậy ta kính lễ họ,
,Hỡi này Màtali!
,(Màtali):
,Phải, tôi cũng được nghe,
,Ở đời bậc tối thượng,
,Sakka Ngài đảnh lễ.
,Những vị Ngài đảnh lễ,
,Tôi cũng đều đảnh lễ.
,Ôi, này Vàsava!

,Maghavà nói vậy,
,Vua Sujampati,
,Ðảnh lễ Tăng chúng xong,
,Lên xe dẫn đi đầu.

PHẨM III
(Thứ Ba)

,(1)
Sát Hại Gì?
,Tại Sàvatthi, Jetavana. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thế Tôn:
,Sát vật gì, được lạc?
,Sát vật gì, không sầu?
,Có một loại pháp gì,
,Ngài tán đồng sát hại,
,Tôn giả Gotama?
,(Thế Tôn):
,Sát phẫn nộ được lạc,
,Sát phẫn nộ không sầu.
,Phẫn nộ với độc căn,
,Với vị ngọt tối thượng,
,Pháp ấy, bậc Hiền thánh
,Tán đồng sự sát hại.
,Sát pháp ấy, không sầu,
,Hỡi này Vàsava!

,(2)
Xấu Xí
,Tại Sàvatthi, Jetavana. Tại đây... Thế Tôn nói như sau:
,1- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.
,Ở đây, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất:
,- "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!".
,2. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.
,Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:
,- «Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất:
,- "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!".
,Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?"
,3. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần:
,- "Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!".
,Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.
,4. Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
,Tâm ta không dễ dàng,
,Ðể cho bị thất trận,
,Không dễ bị lôi kéo,
,Trong xoáy nước dục tình.
,Người biết đã từ lâu,
,Ta không còn phẫn nộ,
,Phẫn nộ không chân đứng
,Một chỗ nào trong ta.
,Ta không nói ác ngữ,
,Vì phẫn nộ giận hờn,
,Và không có khen tặng,
,Những đức tánh của ta.
,Thấy được lợi ích mình,
,Ta tự thân chế ngự.

,(3)
Huyễn Thuật
,Tại Sàvatthi... Thế Tôn nói như sau:
,1- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa A-tu-la Vepacitti, vua các A-tu-la, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến A-tu-la để hỏi thăm tình trạng bịnh hoạn. Vepacitti từ đàng xa trông thấy Thiên chủ Sakka đi đến, thấy vậy liền nói với Thiên chủ Sakka:
,- «Này Thiên chủ, hãy chữa bệnh cho tôi".
,- «Này Vepacitti, hãy nói tôi biết ảo thuật của Sambhara".
,- «Này Tôn giả, hãy chờ tôi hỏi ý kiến các A-tu-la."
,2. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, hỏi ý kiến các A-tu-la:
,- «Chư Tôn giả, tôi có nên nói cho Thiên chủ Sakka, ảo thuật của Sambhara không?"
,- «Thưa Tôn giả, Ngài không nên nói cho Thiên chủ Sakka ảo thuật của Sambhara".
,3. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói lên bài kệ này với Thiên chủ Sakka:
,Ông thuộc dòng Magha,
,Là Sakka, Thiên chủ,
,Là chồng của Sujà,
,Ảo thuật dắt dẫn đến,
,Vực sâu của địa ngục,
,Tại đấy Sambhara,
,Ðã sống một trăm năm.

,(4)
Tội Lỗi hay Không Phẫn Nộ
,Tại Sàvatthi... tại vườn ông Cấp Cô Ðộc.
,1. Lúc bấy giờ hai Tỷ-kheo cãi lộn nhau. Ở đây, một Tỷ-kheo phạm tội, Tỷ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỷ-kheo kia. Tỷ-kheo ấy không chấp nhận.
,Rồi Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
,- Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai Tỷ-kheo cãi lộn nhau. Một Tỷ-kheo phạm tội. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỷ-kheo kia. Tỷ-kheo ấy không chấp nhận.
,2. Này các Tỷ-kheo, hai Tỷ-kheo này là ngu si: một vị không thấy phạm tội là phạm tội, một vị không chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỷ-kheo, hai vị Tỷ-kheo này là ngu si.
,Này các Tỷ-kheo, hai Tỷ-kheo này là sáng suốt, một vị thấy phạm tội, một vị chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỷ- kheo, hai Tỷ-kheo này là sáng suốt.
,3. Thuở xưa, Thiên chủ Sakka, để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên tại hội trường Sudhamma, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ này:
,Hãy nhiếp phục phẫn nộ,
,Giữ tình bạn không phai,
,Không đáng mắng, chớ mắng,
,Không nên nói hai lưỡi,
,Phẫn nộ quăng người ác,
,Như đá rơi vực thẳm.

,(5)
Không Phẫn Nộ hay Không Hại
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo... Thế Tôn nói như sau:
,- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên tại hội trường Sudhamma, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ này:
,Chớ để lòng phẫn nộ,
,Nhiếp phục, chi phối người!
,Chớ để lòng sân hận,
,Ðối trị với sân hận!
,Không phẫn nộ, vô hại,
,Bậc Thánh thường an trú.
,Phẫn nộ quăng người ác,
,Như đá rơi vực thẳm.

[Hết Tập 1]

...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG DẠ-XOA

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 1

[Thiên có Kệ]
Chương 10
TƯƠNG ƯNG DẠ-XOA

———————————————————————————————
,[I]
Indaka
,Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), núi Indakuuta, tại trú xứ của Dạ-xoa Indaka. Rồi Dạ-xoa Indaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn:
,Chư Phật, Ngài dạy rằng,
,Sắc không phải sinh mạng,
,Vậy sao sinh mạng này,
,Lại có trong thân này?
,Từ đâu xương thịt đến,
,Trong thân thể hiện tại?
,Làm sao sinh mạng này,
,Gá dính trong thai tạng?
,(Thế Tôn):
,Trước tiên, Kalala,
,Rồi từ Kalala,
,Abbuda có mặt.
,Rồi từ Abbuda,
,Pesì (thịt mềm) được sanh ra.
,Pesì sinh Ghana (thịt cứng),
,Rồi đến Pasàkha (chi tiết),
,Tóc, lông và các móng,
,Tiếp tục được sanh ra.
,Những gì người mẹ ăn,
,Ðồ ăn, đồ uống nào,
,Con người trong bụng mẹ,
,Ở đấy, lấy nuôi dưỡng.

,[II]
Sakka
,Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gijjhakuuta (Linh Thứu). Rồi Dạ-xoa tên Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn:
,Thật không tốt lành gì,
,Một Sa-môn như Ngài,
,Ðã đoạn mọi triền phược,
,Ðã sống chơn giải thoát,
,Lại tiếp tục giảng dạy,
,Những kẻ khác tu học.
,(Thế Tôn):
,Này Dạ-xoa Sakka,
,Dầu vì lý do gì,
,Loài Người sống chung nhau,
,Không một lý do nào,
,Xứng đáng bậc trí tuệ,
,Với lòng từ lân mẫn,
,Nếu với tâm tín thành,
,Giảng dạy những người khác,
,Do vậy không hệ lụy,
,Vì lòng từ lân mẫn.

,[III]
Suciloma
,Một thời Thế Tôn ở Gayà, trên hòn đá Tankita tại trú xứ của Dạ-xoa Suciloma. Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara và Dạ-xoa Suciloma đi ngang qua, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
,1. Rồi Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Suciloma:
,- Ðây là một Sa-môn.
,- Ðây không phải Sa-môn. Ðây là Sa-môn giả. Hay ít nhất cho đến khi ta biết được Sa-môn hay Sa-môn giả.
,Rồi Dạ-xoa Suciloma đi đến Thế Tôn, sau khi đến liền nghiêng thân về phía Thế Tôn.
,Thế Tôn liền tránh né thân của mình.
,2. Dạ-xoa Suciloma nói với Thế Tôn:
,- Có phải Sa-môn sợ ta?
,- Này Hiền giả, Ta không sợ Ông. Nhưng xúc chạm với Ông là điều đáng ghét (pàpaka).
,- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu. Nếu Ông không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia sông Hằng.
,- Này Hiền giả, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm bể tim Ta, hay nắm lấy chân Ta, quăng Ta qua bờ bên kia. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn.
,(Dạ-xoa):
,Tham dục và sân hận,
,Do nhân gì sanh khởi?
,Bất mãn và thỏa mãn,
,Sợ hãi từ đâu sanh?
,Từ đâu được khởi lên,
,Các tư tưởng, tư duy,
,Như quạ được bầy trẻ,
,Thả bay rồi kéo lại?
,(Thế Tôn):
,Tham dục và sân hận,
,Do nhân này sanh khởi,
,Bất mãn và thỏa mãn,
,Sợ hãi từ đây sanh.
,Từ đây được khởi lên,
,Các tư tưởng, tư duy,
,Như quạ được bầy trẻ,
,Thả bay rồi kéo lại.
,Chính do tham ái sanh,
,Chính do tự ngã sanh.
,Như cây nigroda (cây bàng),
,Do từ thân cây sanh.
,Phàm phu bám ác dục,
,Như cây leo khắp rừng.
,Những ai hiểu biết được,
,Do nhân ấy sanh khởi,
,Họ diệt trừ nhân ấy.
,Hãy nghe, này Dạ-xoa,
,Họ vượt bộc lưu này,
,Bộc lưu thật khó vượt,
,Từ trước chưa vượt qua,
,Không còn phải tái sanh.

,[IV]
Manibhadda
,Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Magadha, tại điện thờ Manimàlaka, tại một trú xứ của Dạ-xoa Manibhadda.
,Rồi Dạ-xoa Manibhadda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
,Lành thay, thường chánh niệm,
,Nhờ niệm, lạc tăng trưởng.
,Có niệm, mai đẹp hơn,
,Hận thù được giải thoát.
,(Thế Tôn):
,Lành thay, thường chánh niệm,
,Nhờ niệm, lạc tăng trưởng,
,Có niệm, mai đẹp hơn,
,Hận thù chưa giải thoát.
,Với ai trọn ngày đêm,
,Tâm ý lạc, bất hại,
,Từ tâm mọi hữu tình,
,Vị ấy không thù hận.

,[V]
Sanu
,Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Sànu, con một nữ cư sĩ bị Dạ-xoa ám ảnh.
,Nữ cư sĩ ấy than khóc, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
,Con ta là La-hán,
,Ðối với ta là vậy,
,Và chính ta được nghe,
,Vị La-hán nói vậy.
,Nay ta thấy Sànu,
,Bị Dạ-xoa ám ảnh.
,Ngày mười bốn, mười lăm,
,Và ngày tám nửa tháng,
,Cả ngày lễ đặc biệt,
,Khéo tu tám trai giới,
,Tuân trì lễ Bố-tát.
,Và chính ta được nghe,
,Vị La-hán nói vậy,
,Nay ta thấy Sànu,
,Bị Dạ-xoa ám ảnh.
,Ngày mười bốn, mười lăm,
,Và ngày tám nửa tháng,
,Cả ngày lễ đặc biệt,
,Khéo tu tám trai giới,
,Tuân trì lễ Bố-tát.
,Những ai sống Phạm hạnh,
,Dạ-xoa không ám ảnh,
,Và chính ta được nghe,
,Vị La-hán nói vậy.
,Người nói với Sànu,
,Có trí và sáng suốt,
,Ðây là lời Dạ-xoa,
,Chớ có làm điều ác,
,Công khai hay bí mật.
,Nếu người làm điều ác,
,Sẽ làm hay đang làm,
,Ông không thoát khổ đau,
,Dầu có đứng lên chạy,
,Chạy một mạch, chạy dài.
,(Sànu được khỏi ám ảnh):
,Này mẹ, người ta khóc,
,Là khóc cho người chết,
,Hay khóc cho người sống,
,Nhưng không được thấy mặt?
,Này mẹ, chúng thấy con,
,Hiện có mặt đang sống.
,Vậy sao mẹ khóc con,
,Này người mẹ thân yêu?
,(Bà mẹ):
,Người ta khóc cho con,
,Là khóc cho con chết,
,Hay khóc cho con sống,
,Nhưng không được thấy mặt.
,Ai đã bỏ dục vọng,
,Lại trở lui đời này,
,Này con, người ta khóc,
,Là khóc cho người ấy,
,Vì người ấy được xem,
,Còn sống cũng như chết.
,Nay con được kéo ra,
,Khỏi than hừng đỏ rực,
,Con còn muốn rơi vào,
,Ðống than hồng ấy chăng?
,Nay con được thoát ra,
,Khỏi địa ngục đau khổ,
,Con còn muốn rơi vào,
,Cõi địa ngục ấy chăng?
,Hãy dong ruổi đời con,
,Ta chúc con hạnh phúc,
,Hãy sống như thế nào,
,Không làm ai bực phiền.
,Ðồ vật thoát lửa cháy,
,Con muốn đốt lại chăng?

,[VI]
Piyankara
,Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha thức dậy khi đêm vừa mới sáng, đang tụng đọc pháp cú.
,Một nữ Dạ-xoa, mẹ của Piyankara dỗ cho con nín như sau:
,Này Piyankara,
,Chớ có sanh tiếng động,
,Vị Tỷ-kheo đang tụng,
,Những lời về pháp cú.
,Nếu chúng ta biết được,
,Học được pháp cú này,
,Rồi như pháp hành trì,
,Chúng ta được lợi ích.
,Không sát hại sanh vật,
,Không cố ý nói láo,
,Tự học tập giới luật,
,Chúng ta thoát ngạ quỷ.

,[VII]
Punabbasu
,Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.
,Rồi một nữ Dạ-xoa, mẹ Punabbasu dỗ con nín như sau:
,Hãy gìn giữ im lặng,
,Này Uttarika!
,Hãy gìn giữ im lặng,
,Này Punabbasu!
,Ðể mẹ được nghe pháp.
,Ðạo Sư, tối thượng Phật,
,Thế Tôn giảng Niết-bàn,
,Thoát ly mọi triền phược,
,Mẹ đối với pháp ấy,
,Thật cực kỳ ái lạc.
,Ðời ái lạc con mình,
,Ðời ái lạc chồng mình,
,Nhưng đối với đạo pháp,
,Mẹ ái lạc nhiều hơn.
,Con hay chồng dầu thân,
,Không cứu ta thoát khổ,
,Không như nghe diệu pháp,
,Chúng sanh được thoát khổ.
,Trong đau khổ đời sau,
,Dính liền già và chết,
,Chánh pháp Ngài giác ngộ,
,Giải thoát khỏi già chết.
,Mẹ muốn nghe pháp ấy
,Hãy nín đi con ơi!
,Này Punabbasu.
,(Punabbasu):
,Thưa mẹ, con không nói,
,Uttarà nín lặng.
,Mẹ hãy lắng nghe pháp,
,Nghe pháp được an lạc.
,Vì không biết diệu pháp,
,Chúng ta trôi sanh tử.
,Giữa Nhân, Thiên mù quáng,
,Ngài đem cho ánh sáng,
,Giác ngộ, thân tối hậu,
,Bậc Pháp nhãn thuyết pháp.
,(Bà mẹ):
,Hữu trí thay, con ta!
,Con ta sanh ẵm ngực.
,Nay con ta ái lạc,
,Tịnh pháp Vô thượng Phật.
,Này Punabbasu!
,Hãy sống chơn an lạc,
,Nay ta được sống lại,
,Thấy được chơn Thánh đế,
,Này con Uttara!
,Hãy nghe theo lời ta.

,[VIII]
Sudatta
,Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại rừng Sìta. Lúc bấy giờ cư sĩ Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) đã đến Ràjagaha để làm một vài công việc. Cư sĩ Anàthapindika được nghe đức Phật đã ra đời và muốn đến yết kiến Thế Tôn.
,1. Rồi cư sĩ Anàthapindika suy nghĩ:
,- "Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Ngày mai mới phải thời ta đến yết kiến Thế Tôn".
,Như vậy với ý nghĩ đi yết kiến đức Phật, ông Anàthapindika nằm ngủ. Trong đêm, ông ấy thức dậy ba lần, tưởng rằng trời đã sáng.
,2. Rồi cư sĩ Anàthapindika đi đến cửa Sìvatthika (nghĩa địa), và có những phi nhân mở cửa.
,Và khi ông ra khỏi thành phố, ánh sáng biến mất và bóng tối hiện ra. Ông sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược và muốn đi trở về.
,3. Rồi Dạ-xoa Sìvaka ẩn hình, lên tiếng như sau:
,Trăm voi và trăm ngựa,
,Trăm xe do ngựa kéo,
,Cả trăm ngàn thiếu nữ,
,Ðược trang sức bông tai,
,Không bằng phần mười sáu,
,Một bước đi tới này.
,Cư sĩ, hãy tiến tới!
,Cư sĩ, hãy tiến tới!
,Tiến tới, tốt đẹp hơn,
,Chớ có lui, thối bước!
,Rồi với Anàthapindika, tối tăm biến mất, ánh sáng hiện ra. Và sợ hãi, hốt hoảng, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được dịu hẳn xuống.
,Lần thứ hai... (như trên)...
,Lần thứ ba, với Anàthapindika, ánh sáng biến mất, bóng tối hiện ra. Và sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược khởi lên. Và Anàthapindika muốn trở lui. Lần thứ ba, Dạ-xoa Sìvaka ẩn hình lên tiếng như sau:
,Trăm voi và trăm ngựa,
,Trăm xe do ngựa kéo,
,Cả trăm ngàn thiếu nữ,
,Ðược trang sức bông tai,
,Không bằng phần mười sáu,
,Một bước đi tới này.
,Cư sĩ, hãy tiến tới!
,Cư sĩ, hãy tiến tới!
,Tiến tới, tốt đẹp hơn,
,Chớ có lui, thối bước!
,Rồi với Anàthapindika, bóng tối biến mất, ánh sáng hiện ra và sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được dịu bớt.
,4. Rồi Anàthapindika đi đến rừng Sìta, đi đến Thế Tôn.
,Lúc bấy giờ Thế Tôn thức dậy vào lúc đêm vừa mãn và đang đi kinh hành ngoài trời. Thế Tôn thấy Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy, từ chỗ kinh hành đi xuống, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với cư sĩ Anàthapindika:
,- Hãy đến đây, Sudatta!
,Rồi cư sĩ Anàthapindika nghĩ: "Thế Tôn kêu tên ta", rồi cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngủ có an lạc chăng?
,(Thế Tôn):
,Bà-la-môn tịch tịnh,
,Luôn luôn sống an lạc,
,Không đèo bồng dục vọng,
,Thanh lương, không sanh y,
,Mọi ái trước đoạn diệt,
,Tâm khổ não điều phục,
,Tịch tịnh, sống an lạc,
,Tâm tư đạt hòa bình.

,[IX]
Sukkà (1)
,Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
,Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Sukkà, có đại chúng đoanh vây, đang thuyết pháp. Rồi một Dạ-xoa có lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà, đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã tư này đến ngã tư khác ở Ràjagaha, và ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
,Này người Vương Xá thành,
,Các Người đã làm gì,
,Mà nay lại nằm dài,
,Như say vì rượu ngọt.
,Không hầu hạ Sukkà,
,Ðang thuyết pháp bất tử?
,Pháp ấy không trở lui,
,Cam lồ không lưng vơi.
,Ta nghĩ người trí tuệ
,Uống nước (cam lồ) ấy,
,Chẳng khác một đám mưa,
,Ðối với kẻ lữ hành.

,[X]
Sukkà (2)
,Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, một người cư sĩ đang cúng dường đồ ăn cho Tỷ-kheo-ni Sukkà. Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã ba này ba khác ở Ràjagaha, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
,Cư sĩ có trí này,
,Chắc hưởng nhiều công đức,
,Ðã cúng dường món ăn,
,Dâng cúng lên Sukkà,
,Một vị đã giải thoát,
,Tất cả mọi triền phược.

,[XI]
Cirà hay Virà
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú ở Ràagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, một cư sĩ dâng y cúng dường Tỷ-kheo-ni Cirà. Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Cirà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác tại thành Vương Xá, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
,Cư sĩ có trí này,
,Chắc hưởng nhiều công đức,
,Ðã cúng dường tấm y,
,Dâng cúng lên Cirà,
,Một vị đã giải thoát,
,Tất cả mọi khổ ách.

,[XII]
Alava
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Thế Tôn trú ở Alavi, tại trú xứ của Dạ-xoa Alavakka.
,1. Rồi Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:
,- Này Sa-môn, hãy đi ra!
,- Lành thay, Hiền giả.
,Thế Tôn nói và đi ra.
,- Này Sa-môn, hãy đi vào.
,- Lành thay, Hiền giả.
,Thế Tôn nói và đi vào.
,Lần thứ hai, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:
,- Này Sa-môn, hãy đi ra.
,- Lành thay, Hiền giả.
,Thế Tôn nói và đi ra.
,- Này Sa-môn, hãy đi vào.
,- Lành thay, Hiền giả.
,Thế Tôn nói và đi vào.
,Lần thứ ba, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn:
,- Này Sa-môn, hãy đi ra.
,- Lành thay, Hiền giả.
,Thế Tôn nói và đi ra.
,- Này Sa-môn, hãy đi vào.
,- Lành thay, Hiền giả.
,Thế Tôn nói và đi vào.
,2. Lần thứ tư, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn:
,- Này Sa-môn, hãy đi ra.
,- Này Hiền giả, Ta không đi ra. Hãy làm gì Ông nghĩ là phải làm.
,- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu hỏi. Nếu Ông không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia sông Hằng.
,3- Này Hiền giả, Ta không thấy một ai, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm bể tim Ta hay nắm lấy chân, quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn.
,(Dạ-xoa):
,Cái gì đối người đời,
,Là tài sản tối thượng?
,Cái gì khéo hành trì,
,Ðem lại chơn an lạc?
,Cái gì giữa các vị,
,Là vị ngọt tối thượng?
,Phải sống như thế nào,
,Ðược gọi sống tối thượng?
,(Thế Tôn):
,Lòng tin đối người đời,
,Là tài sản tối thượng.
,Chánh pháp khéo hành trì,
,Ðem lại chơn an lạc.
,Chân lý giữa các vị,
,Là vị ngọt tối thượng.
,Phải sống với trí tuệ,
,Ðược gọi sống tối thượng.
,(Dạ-xoa):
,Làm sao vượt bộc lưu?
,Làm sao vượt biển lớn?
,Làm sao siêu khổ não?
,Làm sao được thanh tịnh?
,(Thế Tôn):
,Với tín, vượt bộc lưu.
,Không phóng dật, vượt biển.
,Tinh tấn, siêu khổ não.
,Với Trí, được thanh tịnh.

,(Dạ-xoa):
,Làm sao được trí tuệ?
,Làm sao được tài sản?
,Làm sao đạt danh xưng?
,Làm sao kết bạn hữu?
,Ðời này qua đời khác,
,Làm sao không sầu khổ?
,(Thế Tôn):
,Ai tin tưởng Chánh pháp
,Của bậc A-la-hán,
,Pháp ấy khiến đạt được,
,Niết-bàn (chơn an lạc),
,Khéo học, không phóng dật,
,Minh nhãn khéo phân biệt,
,Nhờ hành trì như vậy,
,Vị ấy được trí tuệ.
,Làm gì khéo thích hợp,
,Gánh vác các trách nhiệm,
,Phấn chấn, thích hoạt động,
,Như vậy được tài sản,
,Chơn thật đạt danh xưng,
,Bố thí kết bạn hữu,
,Ðời này qua đời khác,
,Như vậy không sầu khổ.
,Tín nam gia chủ nào,
,Tìm cầu bốn pháp này,
,Chơn thực và chế ngự,
,Kiên trì và xả thí,
,Vị ấy sau khi chết,
,Không còn phải sầu khổ.
,Ðời này qua đời khác,
,Sau chết, không sầu khổ.
,Ta muốn Ông đến hỏi,
,Sa-môn, Bà-la-môn,
,Có những pháp nào khác,
,Tốt hơn bốn pháp này:
,Chơn thực và chế ngự,
,Xả thí và kham nhẫn.
,(Dạ-xoa):
,Làm sao nay ta hỏi,
,Sa-môn, Bà-la-môn,
,Khi nay ta được biết,
,Nguyên nhân của đời sau.
,Phật đến Alavi,
,Thật lợi ích cho ta.
,Nay ta được biết rõ,
,Cho gì được quả lớn.
,Nên ta sẽ bộ hành,
,Làng này qua làng khác,
,Thành này qua thành khác,
,Ðảnh lễ Phật Chánh Giác,
,Cùng đảnh lễ Chánh pháp,
,Các vị chứng Pháp tánh.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG RỪNG

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 1

[Thiên có Kệ]
Chương 9
TƯƠNG ƯNG RỪNG

———————————————————————————————
,[I]
Viễn Ly
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Lúc bấy giờ Tỷ-kheo ấy, trong lúc đi nghỉ ban ngày, khởi lên những tư tưởng ác, bất thiện, liên hệ đến gia đình.
,1. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy. Sau khi đến, vị Thiện ấy nói lên những bài kệ với vị Tỷ-kheo này:
,Ông ước muốn viễn ly,
,Ðã sống trong rừng núi,
,Nay tâm Ông vọng động,
,Dong duổi theo ngoại giới.
,Ông đối mặt với Ông,
,Hãy chế ngự lòng dục,
,Nhờ vậy, Ông hạnh phúc,
,Thoát ly được tham ái.
,Hãy từ bỏ bất mãn,
,Sống an trú chánh niệm,
,Ông thành người hiền thiện,
,Ðược chúng tôi tán thán.
,Trừ bụi trần địa ngục,
,Thật rất khó vượt qua,
,Ông chớ vận chuyển theo,
,Các bụi trần dục vọng,
,Như chim, thân dính bụi,
,Rung thân khiến bụi rơi.
,Cũng vậy vị Tỷ-kheo,
,Tinh cần, trú chánh niệm,
,Vùng vẫy khiến rơi rớt,
,Những bụi đời dính thân.
,2. Tỷ-kheo ấy được vị Thiên cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

,[II]
Săn Sóc, Hầu Hạ
,Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy đang ngủ ngày. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
,1. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
,Tỷ-kheo, hãy thức dậy,
,Sao Ông hãy còn nằm?
,Ông được lợi ích gì,
,Trong giấc ngủ của ông?
,Kẻ bịnh, kẻ trúng tên,
,Bị đánh sao ngủ được?
,Vì lòng tin, xuất gia,
,Bỏ nhà, sống không nhà,
,Tín ấy cần phát triển,
,Chớ để ngủ chinh phục.
,2. (Vị Tỷ-kheo):
,Các dục là vô thường,
,Chỉ kẻ ngu say đắm,
,Ðã giải thoát triền phược,
,Không còn bị ái trước.
,Hạnh xuất gia như vậy,
,Sao để dục nhiệt não?
,Ðã nhiếp phục dục ái,
,Vượt thoát lưới vô minh,
,Với chánh trí thanh tịnh,
,Hạnh xuất gia như vậy,
,Sao để dục nhiệt não?
,Với minh phá vô minh,
,Ðoạn diệt các lậu hoặc,
,Không sầu, không ưu não,
,Hạnh xuất gia như vậy,
,Sao để dục nhiệt não?
,Tinh tấn và nhiệt tâm,
,Thường dõng mãnh cầu tiến,
,Hướng vọng đến Niết-bàn,
,Hạnh xuất gia như vậy,
,Sao để dục nhiệt não?

,[III]
Kassapagotta-Thợ Săn
,Một thời, Tôn giả Kassapagotta trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kassapagotta, trong khi nghỉ ban ngày, khuyên dạy một người thợ săn. Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
,1. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả Kassapagotta:
,Trên sườn núi cheo leo,
,Người thợ săn đang trèo,
,Là hạng người thiếu trí,
,Không sáng suốt, ngu si,
,Tỷ-kheo có khuyên dạy,
,Thật uổng phí thời gian.
,Ta nghĩ làm như vậy,
,Tự tỏ thiếu trí tuệ.
,Có nghe cũng không hiểu,
,Có nhìn cũng không thấy,
,Dầu cho có thuyết pháp,
,Kẻ ngu không thấy đích.
,Tôn giả Kassapa,
,Nếu Ông có cầm tay
,Cho đến mười bó đuốc,
,Người ấy không thấy được,
,Các sắc pháp đối diện,
,Vì người ấy không mắt.
,2. Tôn giả Kassapagotta được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

,[IV]
Ða Số hay Du Hành
,Một thời, nhiều Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala tại một khu rừng. Các Tỷ-kheo ấy an cư mùa mưa xong, sau ba tháng, bắt đầu đi du hành.
,1. Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, không thấy các Tỷ-kheo ấy, liền than van, ưu buồn, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
,Hôm nay tâm của ta,
,Cảm thấy không vui vẻ,
,Khi thấy nhiều chỗ ngồi,
,Trống không, không có người.
,Những bậc Ða văn ấy,
,Thuyết pháp thật mỹ diệu.
,Ðệ tử Gotama,
,Hiện nay đang ở đâu?
,2. Khi nghe nói vậy, một vị Thiên khác nói lên những bài kệ cho vị Thiên ấy:
,Họ đi Magadha,
,Họ đi Kosala,
,Và một số vị ấy,
,Ði đến đất Vajjà.
,Như nai thoát bẫy sập,
,Chạy nhảy khắp bốn phương.
,Tỷ-kheo không nhà cửa,
,Sống giải thoát như vậy.

,[V]
Ananda
,Một thời, Tôn giả Ananda trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda sống quá bận rộn bởi nhiều liên hệ với cư sĩ.
,1. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy thương xót Tôn giả Ananda, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tôn giả Ananda. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả Ananda:
,Ông đã quyết lựa chọn,
,Ðời sống dưới gốc cây,
,Tâm Ông quyết nhập một
,Với mục đích Niết-bàn.
,Cù-đàm, hãy Thiền tư,
,Và sống, chớ phóng dật,
,Ðối với Ông, ích gì,
,Tạp thoại, vô vị ấy?
,2. Tôn giả Ananda, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

,[VI]
Anuruddha
,Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Rồi một Thiên nữ ở chúng Tàvatimsa, tên là Jàlinii, đời trước là vợ của Tôn giả Anuruddha, đi đến Tôn giả Anuruddha. Sau khi đến, vị ấy nói lên bài kệ với Tôn giả Anuruddha:
,Hãy hướng tâm tư Ông,
,Vào đời trước của Ông,
,Giữa Tam thập tam thiên,
,Mọi ái dục thành tựu,
,Và Ông được chói sáng,
,Giữa Thiên nữ đoanh vây.
,(Anuruddha):
,Bất hạnh thay Thiên nữ,
,Họ kiên trú thân kiến,
,Cũng bất hạnh, họ sanh,
,Bị Thiên nữ chinh phục.
,(Jàlinii):
,Họ chưa biết hạnh phúc,
,Chưa thấy Dandana,
,Trú xứ các Thiền nhơn,
,Danh xưng giới Tam thập.
,(Anuruddha):
,Kẻ ngu, Bà không biết,
,Lời nói bậc La-hán,
,Mọi hành là vô thường,
,Phải chịu luật sanh diệt,
,Chúng sanh rồi chúng diệt,
,Nhiếp chúng là an lạc.
,Hiện nay đối với ta,
,Không còn chỗ trú xứ,
,Trên cảnh giới chư Thiên,
,Ôi này Jàlinì!
,Ðường sanh tử đứt đoạn,
,Nay tái sanh không còn.

,[VII]
Nàgadatta
,Một thời Tôn giả Nàgadatta trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgadatta đi vào làng quá sớm và trở về quá chiều. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tôn giả Nàgadatta, muốn lợi ích, muốn cảnh giác, liền đi đến Tôn giả Nàgadatta.
,1. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả Nàgadatta:
,Này Nàgadatta,
,Hãy vào làng đúng thời,
,Và khi từ làng về,
,Hãy về cho thật sớm.
,Ông sống quá liên hệ,
,Với các hàng cư sĩ,
,Bị vấn vương quá nhiều,
,Những cảm thọ khổ lạc.
,Ta sợ kẻ bạt mạng,
,Nàgadatta này,
,Lại bị trói, bị buộc,
,Trong gia đình thế sự.
,Chớ để mình rơi vào,
,Cường lực của tử thần,
,Làm sao tránh né được,
,Khỏi Ác ma chi phối!
,2. Tôn giả Nàgadatta được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

,[VIII]
Gia Phụ hay Say Ðắm
,Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
,Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy sống thân mật quá đáng đối với một gia đình. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác vị ấy, biến hình thành gia phụ của gia đình ấy và đi đến Tỷ-kheo ấy. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo ấy:
,Trên bờ sông, cửa chợ,
,Tại trạm nghỉ, lộ trình,
,Dân chúng thường tập hợp,
,Tranh luận liền khởi lên.
,Giữa ta và giữa Ông,
,Có gì là sai khác?
,(Vị Tỷ-kheo):
,Nhiều tiếng qua tiếng lại,
,Bậc khổ hạnh kham nhẫn,
,Chớ cảm thấy bực phiền,
,Chớ phát sinh nhiễm trước.
,Ai bị tiếng rối loạn,
,Như nai trong rừng rú,
,Ðược gọi là khinh tâm,
,Khó tu hành thành tựu.

,[IX]
Vajjiputta-Bạt-kỳ Tử hay Tỳ-xá-lỵ
,Một thời, một Tỷ-kheo Vajjiputtaka trú ở Vesàli tại một khu rừng.
,1. Lúc bấy giờ một cuộc lễ được tổ chức suốt đêm ở Vesàli. Tỷ-kheo ấy được nghe tiếng nhạc khí, tiếng cồng v.v... đánh lên, tiếng ồn ào khởi lên, liền than thở, nói lên ngay lúc ấy những bài kệ này:
,Chúng ta sống một mình,
,Trong khu rừng cô độc,
,Như khúc gỗ lột vỏ,
,Lăn lóc trong rừng sâu,
,Trong đêm tối hân hoan,
,Như hiện tại đêm nay,
,Ai sống đời bất hạnh,
,Như chúng ta hiện sống?
,2. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, có lòng thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác liền đi đến Tỷ-kheo ấy. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ:
,Ông sống chỉ một mình,
,Trong khu rừng cô độc,
,Như khúc gỗ lột vỏ,
,Lăn lóc trong rừng sâu.
,Rất nhiều người thèm muốn,
,Ðời sống như ông vậy,
,Như kẻ đọa địa ngục,
,Thèm muốn sanh thiên giới.
,3. Rồi Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

,[X]
Tụng Học Kinh Ðiển hay Pháp
,Một thời, một Tỷ-kheo sống giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
,Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy trước kia siêng năng tụng kinh rất nhiều, sau một thời gian,]trở thành thụ động, im lặng, an phận.
,Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy không được nghe pháp từ Tỷ-kheo ấy, liền đi đến vị ấy. Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
,Này Tỷ-kheo, sao Ông
,Sống chung các Tỷ-kheo,
,Lại không chịu tụng đọc,
,Các kinh điển pháp cú?
,Ai nghe thuyết Chánh pháp,
,Tâm sanh được tịnh tín.
,Và ngay đời hiện tại,
,Ðược mọi người tán thán.
,(Vị Tỷ-kheo):
,Trước kia đối pháp cú,
,Ta tha thiết tìm hiểu,
,Cho đến khi chứng được,
,Quả vị bậc ly dục;
,Từ khi chứng ly dục,
,Mọi thấy, nghe, xúc cảm,
,Nhờ trí tuệ hiểu biết,
,Ðều được bỏ một bên.
,Chính các bậc Hiền thiện,
,Giảng dạy là như vậy.

,[XI]
Bất Chánh Tư Duy
,Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala tại một khu rừng. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy, khi đang nghỉ ban ngày, khởi lên những tư duy ác, bất thiện, như dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.
,1. Rồi vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót Tỷ-kheo, muốn lợi ích, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy. Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo:
,Ông tác ý bất chánh,
,Nên say đắm tư duy.
,Hãy từ bỏ bất chánh,
,Hãy tư duy chơn chánh,
,Nương tựa Phật, Pháp, Tăng,
,Giữ giới, không thối chuyển,
,Ông chắc chắn chứng đạt,
,Hân hoan và hỷ lạc.
,Với hân hoan sung mãn,
,Ông chấm dứt khổ đau.
,2. Rồi Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

,[XII]
Giữa Trưa hay Tiếng Ðộng
,Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy đi đến Tỷ-kheo. Sau khi đến, nói lên những bài kệ này trước mặt Tỷ-kheo:
,Nay chính giờ giữa trưa,
,Chim chóc đậu im lặng,
,Rừng lớn vang tiếng động,
,Khiến ta run, hoảng sợ.
,(Vị Tỷ-kheo):
,Nay chính giờ giữa trưa,
,Chim chóc đậu im lặng,
,Rừng lớn vang tiếng động,
,Hoan hỷ đến với ta.

,[XIII]
Không Chế Ngự Căn hay Nhiều Tỷ Kheo
,Một thời, rất nhiều Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng nọ, cống cao, ngạo mạn, ồn ào, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự.
,1. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót các Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến các Tỷ-kheo. Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ với các Tỷ-kheo:
,Xưa sống thật an lạc,
,Chúng đệ tử Cù-đàm,
,Không tham tìm món ăn,
,Không tham tìm chỗ trú,
,Biết đời là vô thường,
,Họ chấm dứt khổ đau.
,Nay tự làm ác hạnh,
,Như thôn trưởng trong làng,
,Họ ăn, ăn ngã gục,
,Thèm khát vật nhà người.
,Con vái chào chúng Tăng,
,Ðảnh lễ một vài vị,
,Vất vưởng, không hướng dẫn.
,Họ sống như ngạ quỉ.
,Những ai sống phóng dật,
,Vì họ, con nói lên,
,Những ai không phóng dật,
,Chân thành con đảnh lễ.
,2. Các Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

,[XIV]
Sen Hồng hay Sen Trắng
,Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, đi xuống hồ nước và ngửi bông sen hồng.
,1. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo. Sau khi đến, vị Thiên ấy liền nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo:
,Hoa này từ nước sanh,
,Không cho, Ông ngửi trộm.
,Như vậy một loại trộm,
,Ta gọi Ông trộm hương,
,Này thân hữu của ta.
,(Vị Tỷ-kheo):
,Không lấy đi, không bẻ,
,Ðứng xa, ta ngửi hoa,
,Vậy do hình tướng gì,
,Ðược gọi là "trộm hương"?
,Ai đào rễ củ sen,
,Ăn dùng các loại sen.
,Do các hành động ấy,
,Sao không gọi trộm hương?
,(Vị Thiên):
,Người ty tiện độc ác,
,Như vải nhớp vú em,
,Với hạng người như vậy,
,Lời ta không liên hệ.
,Nhưng chính thật cho Ông,
,Chính lời ta tương ưng
,Với người không cấu uế,
,Thường hướng cầu thanh tịnh.
,Với kẻ ác nhìn thấy,
,Nhỏ như đầu sợi lông,
,Vị ấy xem thật lớn,
,Như đầu mây trên trời.
,(Vị Tỷ-kheo):
,Thật sự này Dạ-xoa,
,Ông biết ta, thương ta,
,Hãy nói lại với ta,
,Khi thấy ta như vậy.
,(Vị Thiên):
,Ta không tùy thuộc Ông,
,Ông cũng không làm bậy,
,Này Tỷ-kheo nên biết,
,Ông có thể sanh Thiên.
,2. Vị Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục

TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO

Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta Nikaya)
Tập 1

[Thiên có Kệ]
Chương 8
TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO

———————————————————————————————
,[I]
Xuất Ly
,Như vầy tôi nghe.
,Một thời Tôn giả Vangìa trú ở Alavi, tại ngôi đền ở Aggàlava, cùng với Tôn giả Nigrodha[Kappa, là vị giáo thọ sư. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vangìsa là tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa bao lâu, được ở lại để coi ngôi tịnh xá. Rồi một số đông phụ nữ, sau khi trang điểm, đi đến khu vườn để xem tịnh xá.
,1. Tôn giả Vangìsa thấy các phụ nữ ấy, tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng tâm sanh bất mãn nơi ta, và ta bị lòng dục quấy phá. Làm thế nào ngay hiện tại có người khác có thể đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm khởi lên thỏa mãn cho ta? Hay là ta tự mình đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm cho thỏa mãn khởi lên cho ta?"
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa sau khi tự mình đoạn trừ bất mãn và làm cho thỏa mãn khởi lên, liền ngay trong lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
,Với ta đã xuất gia,
,Bỏ nhà, sống không nhà,
,Tâm tư nay chạy loạn,
,Khởi lên từ đen tối.
,Con nhà bậc thượng lưu,
,Thiện xảo trong cung pháp,
,Ngàn người bắn tứ phía,
,Vẫn không bỏ chạy loạn.
,Nếu phụ nữ có đến,
,Dầu nhiều hơn, đông hơn,
,Sẽ không não loạn ta,
,Vì ta trú Chánh pháp,
,Chính ta từng được nghe,
,Phật, dòng họ mặt trời,
,Thuyết giảng Niết-bàn đạo,
,Ở đây ta ưa thích.
,Nếu ta trú như vậy,
,Ác ma, Ông có đến,
,Sở hành ta là vậy,
,Ông đâu thấy đường ta,

,[II]
Bất lạc-Arati
,Một thời... Tôn giả Vangìsa trú ở Alavi, tại ngôi đền ở Aggàvi cùng với giáo thọ sư Tôn giả Nigrodha Kappa. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nigrodha Kappa sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá và không ra khỏi tịnh xá cho đến chiều hay ngày mai.
,1. Lúc bấy giờ Tôn giả Vangìsa tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Thật bất lợi cho ta! Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng tâm sanh bất mãn nơi ta, và ta bị lòng dục quấy phá. Làm thế nào ngay hiện tại có người khác có thể đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm khởi lên thỏa mãn cho ta? Hay là ta tự mình đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm cho thỏa mãn khởi lên cho ta?"
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa sau khi tự mình đoạn trừ bất mãn và làm thỏa mãn khởi lên, liền ngay trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
,Ta bỏ lạc, bất lạc,
,Mọi tâm tư gia sự,
,Không tạo một chỗ nào,
,Thành cơ sở tham dục.
,Ai thoát khỏi rừng tham,
,Thoát ly mọi tham dục,
,Ly tham không đắm trước,
,Xứng danh chơn Tỷ-kheo.
,Phàm địa giới, không giới,
,Cả sắc giới trong đời,
,Mọi vật đều biến hoại,
,Mọi sự đều vô thường.
,Ai hiểu biết như vậy,
,Sở hành sẽ chân chính.
,Chúng sanh thường chấp trước,
,Ðối với các sanh y,
,Ðối vật họ thấy, nghe
,Họ ngửi, nếm, xúc chạm.
,Ở đây, ai đoạn dục,
,Tâm tư không nhiễm ô,
,Không mắc dính chỗ này,
,Vị ấy danh Mâu-ni.
,Ðối với sáu mươi pháp,
,Thuộc vọng tưởng phi pháp,
,Phàm phu thường chấp trước,
,Chấp thủ và tham đắm.
,Tỷ-kheo không phiền não,
,Không nói lời ác ngữ,
,Sáng suốt, tâm thường định,
,Không dối trá, thận trọng,
,Thoát ly mọi tham ái.
,Vị Mâu-ni chứng đạt,
,Cảnh Niết-bàn tịch tịnh,
,Chờ đón thời mệnh chung,
,Với tâm tư vắng lặng,
,Thanh thoát nhập Niết-bàn.

,[III]
Khinh Miệt Kẻ Ôn Hòa-Pessalà Atìmannanà
,Một thời Tôn giả Vangìsa trú ở Alavi, tại đền Aggàlavi, cùng với giáo thọ sư là Tôn giả Nigrodha Kappa. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vangìsa thường hay khinh miệt các vị Tỷ-kheo ôn hòa khác vì khả năng biện tài của mình.
,1. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng ta khinh miệt các vị Tỷ-kheo ôn hòa khác vì khả năng biện tài của ta".
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa, tự hối trách mình, liền ngay khi ấy, nói lên những bài kệ này:
,Ðệ tử Gotama,
,Hãy từ bỏ kiêu mạn,
,Và cũng tự bỏ luôn,
,Con đường đến kiêu mạn.
,Nếu hoàn toàn đắm say,
,Trong con đường kiêu mạn,
,Sẽ tự mình hối trách,
,Trong thời gian lâu dài.
,Những ai khinh khi người,
,Với khinh khi kiêu mạn,
,Ði con đường kiêu mạn,
,Sẽ đọa lạc địa ngục.
,Những người ấy sầu khổ,
,Trong thời gian lâu dài,
,Do kiêu mạn dắt dẫn,
,Phải sanh vào địa ngục.
,Tỷ-kheo không bao giờ
,Phải sầu muộn buồn thảm,
,Thắng lợi trên chánh đạo,
,Sở hành được chân chánh,
,Vị ấy được thọ hưởng,
,Danh dự và an lạc,
,Chơn thực được danh xưng,
,Là bậc hưởng Pháp lạc.
,Do vậy ở đời này,
,Không thô lậu, tinh tấn
,Ðoạn trừ mọi triền cái,
,Sống thanh tịnh trong sạch,
,Và đoạn tận kiêu mạn,
,Hoàn toàn, không dư thừa,
,Chấm dứt mọi phiền não,
,Với trí tuệ quang minh,
,Ngài được xem là bậc
,Sống tịch tịnh an lạc.

,[IV]
Ananda
,1. Một thời Tôn giả Ananda trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anàthapinkika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực với Tôn giả Vangìsa là Sa-môn thị giả.
,2. Lúc bây giờ Tôn giả Vangìsa tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá. Rồi Tôn giả Vangìsa nói lên bài kệ với Tôn giả Ananda:
,Dục ái đốt cháy tôi,
,Tâm tôi bị thiêu cháy.
,Thật là điều tốt lành,
,Ðệ tử Gotama,
,Vì lòng từ thương tưởng,
,Nói pháp tiêu lửa hừng.
,(Ananda):
,Chính vì điên đảo tưởng,
,Tâm Ông bị thiêu đốt,
,Hãy từ bỏ tịnh tướng,
,Hệ lụy đến tham dục,
,Nhìn các hành vô thường,
,Khổ đau, không phải ngã,
,Dập tắt đại tham dục,
,Chớ để bị cháy dài;
,Hãy tu tâm bất tịnh,
,Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
,Tu tập thân niệm trú,
,Hành nhiều hạnh yểm ly;
,Hãy tập hạnh vô tướng,
,Ðoạn diệt mạn tùy miên,
,Nhờ quán sâu kiêu mạn,
,Hạnh Ông được an tịnh.

,[V]
Khéo Nói
,Tại Sàvatthi, Jetavana. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo.
,- Thưa vâng, Thế Tôn.
,Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
,1- Ðầy đủ bốn đức tánh, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích.
,- Thế nào là bốn?
,Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói lời thiện thuyết, không nói lời ác thuyết, nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp, nói lời ái ngữ, không nói lời ác ngữ, nói lời chơn ngữ, không nói lời phi chơn.
,Ðầy đủ bốn đức tính này, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích.
,2. Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, Ðạo Sư lại nói thêm:
,Bậc Thiện Nhơn dạy rằng:
,Thứ nhất là thiện thuyết,
,Thứ hai nói đúng pháp,
,Chớ nói lời phi pháp,
,Thứ ba nói ái ngữ,
,Chớ nói lời ác ngữ,
,Thứ tư, nói chơn thực,
,Chớ nói lời phi chơn.
,3. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Thế Tôn, hãy soi sáng cho con! Thiện Thệ, hãy soi sáng cho con!
,Thế Tôn nói:
, Này Vangìsa, mong rằng Ông được soi sáng!
,4. Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích đáng:
,Ai nói lên lời gì,
,Lời ấy không khổ mình,
,Lại không làm hại người,
,Lời ấy là thiện thuyết.
,Ai nói lời ái ngữ,
,Lời nói khiến hoan hỷ,
,Lời nói không ác độc,
,Lời ấy là ái ngữ.
,Các lời nói chơn thật,
,Là lời nói bất tử,
,Như vậy là thường pháp,
,Từ thuở thật ngàn xưa.
,Bậc Thiện Nhân được xem,
,An trú trên chơn thực,
,Trên nghĩa và trên pháp,
,Lời đồn là như vậy.
,Lời đức Phật nói lên,
,Ðạt an ổn Niết-bàn,
,Chấm dứt mọi khổ đau,
,Thật lời nói tối thượng.

,[VI]
Sàriputta-Xá-lợi-phất
,Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỷ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp.
,1. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỷ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Tôn giả Sàriputta, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích đáng".
,Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Tôn giả Sàriputta và nói với Tôn giả Sàriputta:
,- Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi. Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi.
,- Mong rằng Hiền giả Vangìsa nói lên vấn đề ấy!
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Tôn giả Sàriputta, nói lên những lời kệ tán thán thích đáng:
,Trí tuệ thâm, trí giải,
,Thiện xảo đạo, phi đạo,
,Ngài Sàriputta,
,Là bậc Ðại trí tuệ.
,Chính Ngài đang thuyết pháp,
,Cho các vị Tỷ-kheo.
,Ngài giảng cách tóm tắt,
,Ngài cũng thuyết rộng rãi.
,Như âm thanh vi diệu,
,Của loại chim Sàli,
,Lời Ngài giảng tuôn trào,
,Tiếng Ngài nghe ngọt lịm.
,Với giọng điệu ái luyến,
,Êm tai, và mỹ diệu,
,Chúng lắng tai nghe pháp,
,Tâm phấn khởi hoan hỷ,
,Này các vị Tỷ-kheo.

,[VII]
Tự Tứ
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Pubbàràma (Ðông Viên), Migara - màtu pàsàda (Lộc Mẫu giảng đường), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
,Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Ngài ngồi giữa trời, xung quanh chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
,1. Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền bảo các Tỷ-kheo:
,- Này các Tỷ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?
,2. Ðược nghe như vậy, Tôn giả Sàriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?
,3- Này Sàriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sàriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sàriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sàriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận.
,4- Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy.bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?
,- Này Sàriputta, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về lời nói. Này Sàriputta, trong khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỷ- kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát.
,5. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
,Thế Tôn nói:
,- Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
,Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
,Nay ngày rằm thanh tịnh,
,Năm trăm Tỷ-kheo họp,
,Bậc Thánh cắt kiết phược,
,Vô phiền, đoạn tái sanh.
,Như vua Chuyển luân vương,
,Ðại thần hầu xung quanh,
,Du hành khắp bốn phương,
,Ðất này đến hải biên.
,Như vậy, các đệ tử,
,Ðã chứng được Tam minh,
,Sát hại được tử thần,
,Những vị này hầu hạ,
,Bậc thắng trận chiến trường,
,Chủ lữ hành vô thượng.
,Tất cả con Thế Tôn,
,Không ai là vô dụng,
,Xin chí thành đảnh lễ,
,Bậc nhổ tên khát ái,
,Xin tâm thành cung kính,
,Bậc dòng họ mặt trời.

,[VIII]
Một Ngàn và Nhiều Hơn
,Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) cùng đại chúng Tỷ-kheo 1.250 vị.
,1. Lúc bấy giờ Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp.
,Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Nay Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, đang thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích ứng."
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
,Thế Tôn đáp:
,- Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
,Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
,Hơn một ngàn Tỷ-kheo,
,Hầu hạ bậc Thiện Thệ,
,Ngài thuyết pháp vô cấu,
,Niết-bàn, không sợ hãi.
,Họ nghe pháp vô cấu,
,Bậc Chánh Giác thuyết giảng.
,Thượng thủ chúng Tỷ-kheo,
,Bậc Chánh Giác chói sáng.
,Bạch Thế Tôn, Thiện Thệ,
,Ngài thật bậc Long Tượng,
,Bậc Ẩn Sĩ thứ bảy ,
,Trong các vị Ẩn Sĩ.
,Ngài trở thành mây lớn,
,Mưa móc ban đệ tử.
,Con từ nghỉ trưa đến,
,Muốn yết kiến Ðạo Sư.
,Ôi bậc Ðại Anh hùng!
,Con là đệ tử Ngài,
,Con tên Vangìsa,
,Ðảnh lễ dưới chân Ngài.
,3- Này Vangìsa, những bài kệ này của Ông, có phải Ông suy nghĩ từ trước hay được khởi lên tại chỗ?
,- Bạch Thế Tôn, những bài kệ này của con không phải suy nghĩ từ trước, chính được khởi lên tại chỗ.
,- Vậy này Vangìsa, hãy cho nhiều bài kệ nữa, không suy nghĩ từ trước, được khởi lên tại chỗ.
,- Thưa vâng bạch Thế Tôn.
,4. Tôn giả Vangìsa vâng đáp Thế Tôn và nói lên những bài kệ tán thán Thế Tôn; những bài kệ chưa được suy nghĩ từ trước:
,Thắng ác ma, tà đạo,
,Ngài sống chướng ngại đoạn.
,Hãy thấy bậc Giải Thoát,
,Thoát ly mọi hệ phược,
,Phân tích thành từng phần,
,Hắc, bạch pháp phân minh.
,Ngài nói lên con đường,
,Nhiều pháp môn khác biệt,
,Mục đích giúp mọi người,
,Vượt qua dòng bộc lưu,
,Chính trên pháp bất tử,
,Ðược Ngài thường tuyên thuyết.
,Chúng con bậc pháp kiến,
,Vững trú không thối chuyển,
,Bậc tạo dựng quang minh,
,Ngài thâm nhập các pháp,
,Thấy được chỗ vượt qua,
,Tất cả mọi kiến xứ.
,Sau khi biết và chứng,
,Ngài thuyết tối thượng xứ,
,Pháp như vậy khéo giảng.
,Ai có thể phóng dật,
,Khi được biết pháp ấy,
,Pháp khéo giảng như vậy?
,Do vậy trong giáo pháp,
,Ðức Thế Tôn, Thiện Thệ.
,Luôn luôn không phóng dật,
,Hãy đảnh lễ, tu học.

,[IX]
Kondanna-Kiều-trần-như
,Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvanna (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Tôn giả Annàsi Kondanna, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình:
,- Bạch Thế Tôn, con là Kondanna. Bạch Thiện Thệ, con là Kondanna.
,1. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Tôn giả Annàsi Kondanna này, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình: 'Bạch Thế Tôn, con là Kondanna. Bạch Thiện Thệ, con là Kondanna'. Vậy ta hãy ở trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Annàsi Kondanna".
,Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y về một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
,Thế Tôn đáp:
,- Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Kondanna:
,Sau đức Phật hiện tại,
,Trưởng lão được chánh giác,
,Chính là Kondanna,
,Nhiệt tâm và tinh cần,
,Chứng được an lạc trú,
,Sống viễn ly liên tục,
,Thực hành lời Sư dạy.
,Ðệ tử chứng được gì,
,Tất cả Ngài chứng được,
,Nhờ tu học tinh tấn,
,Ðại uy lực Ba minh,
,Thiện xảo tâm tư người.
,Phật tử Kondanna,
,Ðảnh lễ chân Ðạo Sư.

,[X]
Moggallàna-Mục-kiền-liên
,Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, trên sườn núi Isigili, tại núi Hắc Sơn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo Tăng khoảng năm trăm vị, tất cả là bậc A-la-hán. Tôn giả Mahà Moggallàna với tâm của mình biết được tâm các vị ấy đã được giải thoát, không có sanh y.
,1. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Thế Tôn nay trú ở Ràjagaha, trên sườn núi Isigili, tại Hắc Sơn cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả là bậc A-la-hán. Tôn giả Mahà Moggallàna với tâm của mình được biết tâm các vị ấy đã được giải thoát, không có sanh y. Vậy ta hãy trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Mahà Moggallàna".
,Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
,- Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
,Thế Tôn đáp:
,- Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Mahà Moggallàana:
,Cao trên sườn đồi núi,
,Những vị chứng Ba minh,
,Những vị đoạn tử thần,
,Các đệ tử hầu hạ,
,Bậc Thánh giả, Mâu-ni,
,Ðã vượt qua đau khổ.
,Ðại thần lực Mục-liên,
,Quán tâm các vị ấy,
,Biết họ được giải thoát,
,Không còn có sanh y.
,Như vậy họ hầu hạ,
,Mâu-ni Gotama,
,Ngài vượt qua đau khổ,
,Mọi sở hành đầy đủ,
,Mọi đức tánh vẹn toàn.

,[XI]
Gaggarà
,Một thời Thế Tôn ở Campà, trên bờ hồ Gaggarà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, với bảy trăm nam cư sĩ, với bảy trăm nữ cư sĩ và vài ngàn chư Thiên. Giữa đại chúng ấy, Thế Tôn chói sáng vượt bậc về quang sắc và danh xưng.
,1. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ:
,- "Nay Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ hồ Gaggarà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, với bảy trăm nam cư sĩ, với bảy trăm nữ cư sĩ và vài ngàn chư Thiên. Giữa đại chúng ấy, Thế Tôn chói sáng vượt bậc về quang sắc và danh xưng. Vậy trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích ứng".
,Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch:
,- Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
,Thế Tôn đáp:
,- Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
,2. Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ thích ứng tán thán:
,Như mặt trăng giữa trời,
,Mây mù được quét sạch,
,Chói sáng như mặt trời,
,Thanh tịnh, không cấu uế.
,Cũng vậy Ngài thật là
,Ðại Mâu-ni Hiền Thánh,
,Danh xưng Ngài sáng chói,
,Vượt qua mọi thế giới.

,[XII]
Vangìsa
,Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Tôn giả Vangìsa, chứng quả A-la-hán không bao lâu, thọ hưởng giải thoát lạc, ngay trong lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
,Thuở trước ta mê thơ,
,Bộ hành khắp mọi nơi,
,Từ làng này, thành này,
,Qua làng khác, thành khác,
,Ta thấy bậc Chánh Giác,
,Tín thành ta sanh khởi.
,Ngài thuyết pháp cho ta,
,Về uẩn, xứ và giới,
,Sau khi nghe Chánh pháp,
,Ta bỏ nhà xuất gia.
,Vì hạnh phúc số đông,
,Vì thấy đạo hành đạo,
,Cho Tỷ-kheo Tăng-Ni,
,Bậc Mâu-ni giác ngộ,
,Ngài đã chấp nhận con,
,Ðược thành đạo với Ngài,
,Con chứng đạt Ba minh,
,Hành trì theo Phật dạy.
,Con biết được đời trước,
,Chứng thiên nhãn thanh tịnh,
,Ba minh, thần thông lực,
,Chứng đạt tha tâm thông.
...

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trangphattu Yếu lược & Bố cục